Thứ Năm, 1 tháng 8, 2019
Sự thật về cái chết của ông Trần Bắc Hà
VIỆT NAM ƠI, NGỪNG ẢO TƯỞNG - VÌ SAO ĐẤT NƯỚC KHÔNG THỂ PHÁT TRIỂN
Vào những năm giữa của thập niên 70 sau khi thành công thống nhất đất nước chung một màu cờ, chúng ta đã đừng tự hào và mạnh miệng tuyên bố rằng: “….sẽ bắt kịp Nhật trong một thập niên.” Rồi mọi người tin như thật.
Nhưng những năm tháng tiếp diễn là một thời kỳ đen tối của dân tộc và tụt hậu cho đất nước. Việt Nam từ một quốc gia với nền công nghiệp tiềm năng đã bị huỷ diệt để thực hiện một mô hình chính trị kinh tế mơ hồi. Cuộc thí nghiệm xã hội này đã khiến toàn quốc chết đói và hàng triệu người phải bỏ xứ ra đi tìm cơ hội ở phương trời mới.
Nhưng chỉ sau một thập niên thất bại, những người dẫn đầu đất nước này đã bắt đầu nhận ra sai lầm và thực hiện chính sách tái xây dựng nền kinh tế với tên gọi Đổi Mới. Ngay lập tức, sự khác biệt được trông thấy rõ rệt. Rồi sau đó là tái ngoại giao với Mỹ và Tây Phương, kết quả là sự mở cửa với thế giới sau một quá trình xung đột tư tưởng.
Mọi người lại vui mừng và tin rằng với tài nguyên trời cho, trí tuệ ưu việt cộng với tiềm năng phát triển hiện có, Việt Nam sẽ trở thành một ‘Con Hổ’ kinh tế như khối Đông Á. Những năm tháng trôi qua tiếp theo thì ai cũng tưởng như thật. Với mức tăng trưởng GDP thuộc hàng top thế giới, lượng vốn đầu tư quốc tế không ngừng đổ vào và báo chí tứ phương liên tục ca ngợi - Việt Nam chắc chắn sẽ là một tiểu cường quốc của khu vực.
Rồi bỗng dưng mọi thứ gần như sụp đổ. Việt Nam bị kẹt trong cái bẫy phát triển với GDP đầu người ở mức $2,500. Người dân nghèo thì phải cầm nhà để đi xuất khẩu lao động, các cô gái miền Tây thì xếp hàng để người tuổi cha chú mình coi mặt để làm vợ xứ người, các công nhân phải đi làm với đồng lương rẻ mạt không đủ dư, người lao động thì nhìn giá nhà đất tăng bỏ lại lương phía sau và giới trẻ đua nhau xuất ngoại.
Họ từ hào khoe với thiên hạ rằng: “Việt Nam đã sản xuất được xe hơi,” “Landmark 81 là toà nhà cao nhất Đông Nam Á,” “Việt Nam sẽ vượt mặt kinh tế Singapore” và “Những thương hiệu Việt như Zalo, Luxstay hay Viettel đang chinh phục và không sợ các đối thủ quốc tế.”
Niềm tin bỗng trở thành sự bất mãn, lạc quan bây giờ trở thành tăm tối. Vì cái gọi là phát triển kinh tế bấy lâu nay chỉ là phồn vinh giả tạo được xây dựng bởi những dự án bất động sản và công ty nhà nước bỏ tiền mua tài sản nhưng rỗng tuếch chất xám. Vì đằng sau những thứ được tung hô là thành tựu chỉ là những vỏ bọc không hồn.
Họ vẫn hy vọng rằng đất nước này sẽ bứt phá nhưng lại đang xây một cái nhà không cột trụ. Việt Nam không thể nào trở thành một nước giàu và mạnh được. Không phải vì trí tuệ của thế hệ trẻ kém hay tiềm năng miền đất này vô dụng, mà vì cái nền tảng để xây dựng nó đã lỗi từ ban đầu.
Đất nước đầy nghị lực này không thể nào vươn lên với bạn bè tứ xứ không phải những gì nó đang có, mà vì những gì đang thiếu:
1. Không có cạnh tranh chính trị - Như bao lĩnh vực khác, một khi có sự độc tôn thì nơi đó dường như sẽ không có sự tiến triển vì chẳng có động lực để cải tiến. Ai đang nắm sự độc quyền hiện này?
2. Không có tư hữu - Con người chỉ có động lực khi họ được quyền sở hữu thành quả của mình. Khi tất cả của cải thuộc về tổ chức ở thủ đô thì sẽ chẳng có ai chịu bỏ công và cố gắng để làm giàu cho người khác cả.
3. Không có tự do ngôn luận - Nhân tài chỉ có thể bứt phá trong một bầu trời tự do chứ không thể nào phát triển trong khuôn khổ kiểm duyệt.
4. Không có hệ thống pháp lý công bằng - Khi luật pháp chỉ bảo vệ một số nhỏ để đàn áp số lớn thì khác gì luật băng đảng đường phố. Ai sẽ còn niềm tin vào nguyên lý công bằng để yên tâm làm ăn.
5. Không có trong sạch trong hành chính - Khi bạn làm giấy tờ bị xác nhiễu và kinh doanh bị vòi tiền thì còn gì niềm tin để ở lại cống hiến? Ai đó đang làm nản chí chất xám đất nước này?
6. Không có thị trường tự do - Khi nền kinh tế là sân chơi cho thiểu số lợi ích riêng thì ai còn ham muốn làm giàu để có nguy cơ bị dìm và tiêu diệt? Kinh tế nước này đang thuộc về ai?
Muốn cho ra đời những Samsung, Apple, Google hay Facebook thì hãy thả lỏng tư tưởng và để cho đất nước này bay bổng. Người dân không cần một nhóm người chỉ đạo, họ cần được tự do.
Một quốc gia sẽ chẳng trở nên thịnh vượng được nếu lý tưởng của tổ chức điều hành nó là ‘kinh tế tập trung’ dưới danh nghĩa CNXH. Một dân tộc không thể đột phá về thành quả khi họ bị kìm nén và kiểm soát ngôn luận. Một nền kinh tế không bao giờ không thể nào trở nên linh động và thu hút vốn khi nó là sân chơi riêng của các nhóm lợi ích. Đất nước Việt Nam này sẽ không bao giờ được thành chính mình khi bị thao túng bởi một nước khác thông qua những cá nhân không còn tin vào chính đất nước họ.
Đừng mơ đến chuyện tung bay khi đôi cánh bị siết trói. Việt Nam ơi, hãy ngừng ảo tưởng.
Ku Búa @ Cafe Ku Búa
BÃI TƯ CHÍNH SẼ CÓ SỐ PHẬN NHƯ GẠC MA?
Cao tốc nào chạy thẳng tới bãi Tư Chính?
Cao tốc nào chạy thẳng tới bãi Tư Chính?
MAC LAM/VOA
Khang Nguyen blog: SÁU LÝ DO GIÚP CHẾ ĐỘ CS TỒN TẠI
SÁU LÝ DO GIÚP CHẾ ĐỘ CS TỒN TẠI
Hôm đó là ngày 11 tháng 9, 1987 và Mikhail Gorbachev đang nghỉ ngơi trong một biệt thự ở Hắc Hải. Một phụ tá trình lên ông lá thư từ chức Ủy viên Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Liên Xô của Boris Yeltsin . Gorbachev đọc lá thư mà không tin đó là sự thật. Trong lịch sử đảng CSLX đây là lần đầu một lãnh tụ CS cấp trung ương từ chức. Đấu tranh nội bộ dù sâu sắc như giữa Leon Trotsky và Stalin mấy chục năm trước cũng không có chuyện từ chức. Việc tự ý rời nhiệm sở là việc chưa từng có và cũng không được phép. Leon Trotsky bị tước đoạt mọi chức vụ, loại trừ ra khỏi đảng năm 1927 và cuối cùng bị ám sát ở Mexico năm 1940.
Theo lời Gorbachev, ông gọi về Moscow và ra lịnh cho các phụ tá đến khẩn thiết với Yeltsin đừng tiết lộ nội dung lá thư ra ngoài vì quần chúng và thế giới sẽ biết sự rạn nứt trong nội bộ đảng CSLX.
Hơn một tháng sau đó, trong phiên họp của ban chấp hành trung ương đảng CSLX, Boris Yeltsin chính thức từ chức.
Tuy phiên họp được tổ chức trong vòng bí mật, các tin tức về Boris Yeltsin từ chức cũng đã nhanh chóng lọt ra ngoài. Mảnh vỡ đó đã dẫn tới tự tan vỡ từ trung tâm đảng CSLX, một tổ chức chính trị bí mật, sắt máu và chặt chẽ nhất từ trước đến nay.
Đặc điểm bí mật và sắt máu đã giúp cho cơ chế CS tồn tại với một kỷ lục 74 năm tại Liên Xô so với Đảng Cách Mạng Thể Chế Mexico (Mexico’s Institutional Revolutionary Party) cầm quyền được 71 năm.
Nhưng đó không phải là lý do duy nhất.
Người viết xin tổng kết các lý do chính để những ai, nhất là những người nghĩ mình đang đấu tranh cho dân chủ Việt Nam, hy vọng sự rạn nứt giữa Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng sẽ dẫn đến những thay đổi căn bản và tốt đẹp cho đất nước thì cũng đừng mơ mộng và kỳ vọng nữa.
Việc mong đợi đảng CS tự thay đổi chẳng những làm nhụt ý chí đấu tranh, chứng tỏ sự yếu kém của mình mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến các phong trào dân chủ đang cố gắng vươn lên.
Những thư kiến nghị, thỉnh cầu lần nữa “đem đàn gảy tai trâu” như bao nhiêu lần trước. Với Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng, quyền lợi của đảng bao giờ cũng được đặt lên trên quyền lợi cá nhân.
Rồi mai đây, sóng gió trong nội bộ đảng sẽ qua, Nguyễn Tấn Dũng mất quyền nhưng không mất lợi, chỉ có đất nước là bị xâm thực dần cho đến khi mất hẳn vào tay Trung Cộng.
Dưới đây là sáu lý do :
1. Đảng CS kiểm soát toàn bộ cơ cấu kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội bằng tuyên truyền và khủng bố
Lý do này rất hiển nhiên và dễ hiểu. Tuyên truyền kết hợp với khủng bố tạo thành cột xương sống của chế độ độc tài CS. Ngoài nhà tù và sân bắn, đảng CS áp dụng một chính sách tuyên truyền tàn độc nhất trong lịch sử loài người. Tinh vi đến mức người bị tẩy não hoàn toàn không biết mình bị tẩy não mà cho CS là một lý tưởng của đời người và hiến thân cho đến chết.
Sau cách mạng CS Nga, 1917, công việc đầu tiên Lenin phải làm ngay là thành lập cơ quan tuyên truyền Agitprop và trong giai đoạn đầu còn do chính Lenin đích thân lãnh đạo. Tại Trung Cộng cũng vậy, trong đại hội đảng CS Trung Quốc lần đầu vào năm 1921 chỉ bầu ra vỏn vẹn ba ủy viên trung ương nhưng một trong ba ủy viên đó chịu trách nhiệm tuyên truyền.
Cơ quan tuyên truyền tẩy não trung ương đảng kiểm soát từng chi tiết các sinh hoạt tri thức, thông tin, truyền thanh, truyền hình, báo chí. Hệ thống kiểm duyệt trong chế độ Cộng Sản không chỉ ở trung ương mà theo nhiều tầng lớp. Ngay cả khi các tác giả viết bài cũng đã thực thi tự kiểm duyệt vì họ biết những gì nên viết và những gì không được viết trước khi nạp bản thảo cho cơ quan kiểm duyệt nhà nước. Các tác phẩm phim ảnh được duyệt nhiều lần để bảo đảm khi đến người dân không có một tình tiết nào đi ngược với đường lối của đảng.
Để tồn tại sau những đãi lọc của văn minh nhân loại, phương pháp và mục đích tuyên truyền CS cũng thay đổi theo thời gian.
Chẳng hạn, trước năm 1990 nền giáo dục CS đặt nặng lên học thuyết Marx-Lenin nhưng sau này thêm vào một cái đuôi tư tưởng dân tộc như tư tưởng Mao tại Trung Cộng và tư tưởng Hồ Chí Minh tại Việt Nam.
2. Đấu tranh nội bộ nhưng có cùng một mục tiêu và bị chi phối bởi một kỷ luật đảng
Lịch sử phong trào CS thế giới từ Liên Xô đến Trung Cộng hay như vừa diễn ra tại Việt Nam cho thấy dù có đấu tranh nội bộ, các lãnh tụ CS luôn đặt mục tiêu chung của đảng lên hàng đầu.
Các lãnh đạo đảng chọn hy sinh quyền lợi cá nhân vì sự sống còn của đảng. Tất cả đảng viên CS bị chi phối bởi một cương lĩnh duy nhất là cương lĩnh đảng CS.
Để duy trì tính thống nhất, đảng CS áp dụng một kỷ luật sắt trong nội bộ đảng.
Ngoại trừ trường hợp Khrushchev tố Stalin trong đại hội lần thứ XX của đảng CS Liên Xô, ít khi nào một lãnh đạo Cộng Sản đứng lên thẳng thắn vạch trần tội lỗi của lớp lãnh đạo trước. Làm như thế là phản đảng vì đã tạo chỗ hở cho kẻ thù tấn công vào đảng. Không ai tiên đoán được số phận của Boris Yeltsin ra sao nếu ông ta từ chức, đừng nói chi dưới thời Stalin mà chỉ 10 năm trước đó.
Đời tư các lãnh tụ CS là tài sản bí mật của đảng.
Các lãnh tụ độc tài dù tự sát như Adolf Hitler, bị giết như Benito Mussolini hay bị treo cổ như Hideki Tojo, tội ác của họ cũng đều được phanh phui sau Thế Chiến thứ Hai. Các thế hệ lãnh tụ CS thì khác. Tội ác của các lãnh tụ CS được che giấu kỹ. Vai trò của Kim Nhật Thành trong chiến tranh chống Nhật, Hồ Chí Minh trong chiến tranh chống Pháp, Fidel Castro trong chiến tranh chống độc tài Batista, Stalin trong chiến tranh chống Đức, Mao Trạch Đông trong chiến tranh chống Nhật được đề cao đến độ làm như nếu không có họ có thể toàn dân tộc đã bị xóa tên khỏi lịch sử loài người.
Hình ảnh Mao Trạch Đông chính thức tuyên bố thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, hình ảnh Hồ Chí Minh đọc “tuyên ngôn độc lập” đã được đánh bóng sáng đến mức mọi tội ác tày trời khác của họ đã trở thành tội ăn cắp, tội trộm vặt.
3. Bảo vệ tính kế tục cai trị của đảng
Chế độ CS là một chế độ phong kiến đỏ và do đó, đặc điểm kế tục cai trị CS vô cùng quan trọng.
Trường hợp Đặng Tiểu Bình đối với Mao Trạch Đông là một ví dụ điển hình.
Đặng Tiểu Bình là một trong những người chịu đựng sự hành hạ và mất mát lớn lao về nhân mạng trong thời Cách mạng văn hóa. Bản thân Đặng Tiểu Bình bị chính Mao thanh trừng nhiều lần và con trai của họ Đặng trọng thương khi bị ném từ cửa sổ xuống đường. Chuyện đời tư của Mao, từ bản chất độc tài, nghi kỵ cho đến cá tính trăng hoa dâm dật, Đặng Tiểu Bình biết hơn ai hết, nhưng khi lên nắm quyền hành, ông ta vẫn tiếp tục sơn son thiếp vàng lên một hình tượng mà cá nhân ông vô cùng căm hận.
Trên đồng nhân dân tệ từ đơn vị một đồng cho đến một trăm đồng vẫn in khuôn mặt mỉm cười của một trong những kẻ từng điều khiển bộ máy giết người tập thể khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại.
Là một trong số rất ít lãnh đạo Cộng Sản lão thành còn sót lại từ thời Vạn lý trường chinh và cũng quá thuộc sử Tàu, Đặng Tiểu Bình biết, giống như các triều đại phong kiến Trung Hoa, đặc tính kế thừa của một quyền lực trung tâm là một yếu tố sinh tử của chế độ Cộng Sản.
Họ Đặng biết rằng điểm trung tâm vỡ toàn bộ hệ thống cai trị sẽ vỡ theo.
Đặc điểm kế tục còn được thể hiện qua tầng lớp “Thái tử đảng,” con cháu của các cựu lãnh đạo đảng, tiếp tục vai trò lãnh đạo như trường hợp Ôn Gia Bảo, Hồ Cẩm Đào, Tập Cận Bình tại Trung Cộng. Tại Việt Nam, thành phần “Thái tử đảng” cũng đang “nối bước cha anh.”
4. Sử dụng “thành phần xăng nhớt” cho bộ máy toàn trị
Thành phần trung thành và cuồng tín do chính sách tẩy não nặn ra đa số là những kẻ dốt nát, ngu ngốc, phát biểu những câu chỉ làm trò cười cho thiên hạ và không thể điều hành bộ máy nhà nước.
Bộ máy độc tài toàn trị CS chạy được nhờ vào một thành phần khác có trình độ kỹ thuật chuyên môn cao thuộc các lãnh vực của đời sống mà người viết tạm gọi là “thành phần xăng nhớt.”
Khá đông trong “thành phần xăng nhớt” này là những người có học, có kiến thức về kinh tế chính trị, khoa học kỹ thuật, văn hóa xã hội, biết được lẽ đúng sai nhưng thỏa hiệp với tập đoàn cai trị để đổi lấy một cuộc sống an nhàn, vinh hoa cho bản thân và gia đình.
Thành phần này chấp nhận là xăng nhớt cho bộ máy độc tài tiếp tục cày xéo lên đất nước. Nhiều trong số họ được đào tạo tại các trường đại học danh tiếng thế giới, học và hiểu tường tận các nguyên tắc để xây dựng một xã hội dân chủ nhưng khi về nước họ đã bán thân cho đảng CS.
Một khi lớp xăng nhớt này trở thành cặn bã lại có một lớp khác lên thay.
Như người viết đã phân tích trong bài “Bàn về tẩy não”, lbert D. Biderman trong bản tin của Viện Hàn Lâm Y Khoa New York gọi thành phần này là những người “cho thấy việc chống lại chỉ là hành động vô ích”, từ đó “phát triển một thói quen tuân phục,” và cuối cùng “đầu hàng có điều kiện” trước đảng CS.
5. Các lãnh tụ CS chỉ giết nhân dân nước họ nên thế giới ít quan tâm
Không giống chế độ độc tài Đức Quốc Xã tàn sát dân Do Thái, lãnh đạo Cộng Sản các nước thường giết chính đồng bào cùng máu mủ, cùng tổ tiên, cùng đất nước với họ.
Ngay từ sau 1975, dư luận thế giới đã biết đến tội ác của chế độ Pol Pot. Năm 1976, tạp chí Time còn đăng cả bức hình một tội nhân đang bị đánh vào đầu bằng cuốc, tuy nhiên, ngoài Việt Nam tấn công chế độ bằng một lý do riêng vào tháng Giêng, 1978, không một quốc gia nào có hành động cụ thể để ngăn chặn tội ác của Pol Pot.
Theo Black Book of Communism do Harvard University Press xuất bản, gần một trăm triệu người bị giết dưới chế độ CS nhưng không phải do nước ngoài xâm lược mà do chính các lãnh tụ CS giết nhân dân nước họ như trường hợp Mao giết 65 triệu, Lenin và Stalin giết 20 triệu, Pol Pot giết 2 triệu, Hồ Chí Minh giết 1 triệu (không tính nhiều triệu người Việt vô tội của cả hai miền trong chiến tranh xích hóa Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975).
6. Lãnh đạo Cộng Sản thường tận dụng ảnh hưởng của kẻ thù đã chết
Những lãnh tụ Cộng Sản thường tận diệt kẻ thù còn sống nhưng ca tụng kẻ thù đã chết. Stalin ca tụng Lenin, Fidel Castro ca tụng Ernesto “Che” Guevara, Đặng Tiểu Bình ca tụng Mao Trạch Đông.
Lấy trường hợp Che làm ví dụ.
Nếu Ernesto “Che” Guevara không làm cách mạng phiêu lưu Nam Mỹ mà tiếp tục ở lại Cu Ba, thật khó tưởng tượng ông ta có thể sống sót dưới bàn tay của Fidel Castro. Một rừng không có hai cọp, một nước không có hai vua, đừng nói chi là quan hệ giữa Che và Fidel Castro rạn nứt trước khi Che tạm biệt vợ con lần cuối và lên đường đi Bolivia cuối năm 1966. Che chủ trương kỹ nghệ hóa đất nước, trong khi Fidel Castro chủ trương củng cố quyền lực trung ương.
Sự khác biệt của Che và Fidel Castro khá giống trường hợp của Lưu Thiếu Kỳ và Mao Trạch Đông. Nhưng hôm nay, nếu ai đến Havana, sẽ gặp hình ảnh Che trên khắp ngả đường. Xác chết không nghe được lời ca tụng, không nếm được mỹ vị cao lương, không sống trong các biệt thự có kẻ hầu người hạ, chỉ có đám độc tài đang thống trị đất nước mới thật sự là những kẻ hưởng thụ quyền lực.
Chủ nghĩa Cộng Sản đã tàn rụi ở châu Âu nhưng trong năm nước còn sót lại sự khổ đau, chịu đựng vẫn còn đến hôm nay và không biết đến bao giờ mới hết.
Chiến tranh Lạnh đã tàn. Các nước tư bản tự do vì lý do kinh tế đã không còn giương cao ngọn cờ dân chủ như trước nữa. Họ mặc nhiên chấp nhận chế độ Cộng Sản như là một thực tế của mỗi quốc gia hơn là một phong trào quốc tế. Nhân dân Bắc Hàn, Cu Ba, Việt Nam, Lào, Trung Hoa vì thế sẽ tiếp tục là những dân tộc chịu đựng trong cô đơn.
Trần Trung Đạo
Thứ Tư, 31 tháng 7, 2019
SAGRI: Đảng sẽ ‘thịt’ hay tha đồng chí Nguyễn Thiện Nhân?
-
Trân Văn
Trân Văn là bút danh của một nhà báo có 28 năm làm việc ở nhiều vị trí khác nhau (Cộng tác viên, Phóng viên, Biên tập viên, Thư ký Tòa soạn) của một số đài truyền hình, đài phát thanh, nhật báo, tuần báo, báo điện tử tại Việt Nam và Hoa Kỳ. Các bài viết của Trân Văn là blog cá nhân và được đăng tải với sự đồng ý của đài VOA nhưng không phản ánh quan điểm chính thức của chính phủ Hoa Kỳ.
Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2018
Nhất thể hóa chủ tịch nước và ‘Huy Đức là người của ai’
Nhất thể hóa chủ tịch nước và ‘Huy Đức là người của ai’
Phạm Chí Dũng
Người Việt 7/10/2018
Nhất thể hóa, ông Nguyễn Phú Trọng vừa làm Tổng Bí Thư vừa "gánh" luôn Chủ Tịch Nước. (Hình: Getty Images)
Chưa đầy chục ngày sau cái chết đầy nghi vấn của Trần Đại Quang mà đã khiến lộ trống cái ghế chủ tịch nước như một cơ hội trời ban, một chiến dịch PR từ không quá che giấu đến lộ liễu và cả “dằn mặt” đã được phát pháo.
Chùm đạn pháo ngay trước thềm Hội Nghị Trung Ương 8 vào đầu Tháng Mười năm 2018 mà hứa hẹn có thể sẽ nổ tung một biến cố chính trị lớn.
Sau một tràng liên thanh của một số trí thức xã hội chủ nghĩa về “đã đến lúc cần hợp nhất hai chức danh chủ tịch nước và tổng bí thư” cùng ý tứ mấp mé “ông Nguyễn Phú Trọng là người xứng đáng,” viên đạn pháo có sức công phá và sát thương mạnh nhất vẫn thuộc về Huy Đức – một blogger mang tính tín hiệu chính trị mà từ sau bài “Bộ Tứ” trước Đại Hội 12 của đảng cầm quyền vào đầu năm 2016 đến nay đã được nhiều dư luận mặc định như một trong những “kênh đảng,” hoặc cụ thể hơn: “kênh Nguyễn Phú Trọng.”
‘Đừng sợ tập trung quyền lực vào một người?’
Ngày 30 Tháng Chín năm 2018 và trùng với một tin tức ngoài lề cho biết Bộ Chính Trị rốt cuộc đã họp bàn về các phương án nhân sự cho cái ghế chủ tịch nước với Nguyễn Phú Trọng có thể là ứng cử viên có thể duy nhất, Huy Đức đã đưa lên Facebook của blogger này bài “Nhất thể hóa,” với lời mào đầu:
“Nhất thể hóa tạo tính chính danh cho người đang thực sự nắm quyền lực tối cao ở Việt Nam. Từ thay đổi tưởng chỉ ‘cấu thành hình thức’ này, trong quá trình vận hành, chắc chắn sẽ làm xuất hiện nhiều tình huống, gợi ý cho Việt Nam cải cách. Cho dù vẫn một đảng, về mặt lý thuyết, Việt Nam sẽ tiến gần hơn tới một nền cộng hòa bán tổng thống.”
Gần 4 năm sau Đại Hội 12, có thể cho rằng đây là lần thứ hai Huy Đức tung ra một bài viết có trọng lượng với quan điểm vận động sự ủng hộ cho “người đang thực sự nắm quyền lực tối cao ở Việt Nam,” dù trong bài viết này không hề nhắc đến cái tên Tổng Bí Thư Trọng – người đã chiếm thế thượng phong sau khi tái cử tổng bí thư tại Đại Hội 12 đầu năm 2016, được tụng ca như “Người đốt lò vĩ đại” và “Bậc nhân kiệt thế thiên hành đạo” sau vụ chỉ đạo bắt Ủy Viên Bộ Chính Trị Đinh La Thăng vào cuối năm 2017, và trong thực tế đã mất sạch đối thủ chia sẻ trách nhiệm “thống lĩnh các lực lượng vũ trang” sau cái chết của Trần Đại Quang chỉ ít ngày sau lễ quốc khánh 2 Tháng Chín năm 2018.
Bốn năm trước, trong bối cảnh cuộc chiến nội bộ tranh ghế tổng bí thư vẫn chưa ngã ngũ giữa hai đối thủ chính trị Nguyễn Phú Trọng và kẻ kia bị phe đảng đóng đinh quan niệm “bất cứ ai trừ Dũng,” bài viết “Bộ Tứ” của Huy Đức đã lần đầu tiên đưa ra những đánh giá mang tính đề cao dành cho Tổng Bí Thư Trọng, với cách viết tự tin đến mức chủ quan mà không còn quá ẩn dụ và ẩn kín như trước đó.
Nhưng đó cũng là lần đầu tiên một số dư luận có được một bằng chứng khá rõ rệt thông qua bài viết trên để nhận định “Huy Đức là người phe nào” hoặc cụ thể hơn “Huy Đức là người của ai,” bởi suốt một thời gian dài trước đó nhiều người vẫn ngờ ngợ về vị thế có vẻ mang hơi hướng “dân chủ nhân quyền” của tác giả “Bên Thắng Cuộc.”
Nhà báo tự do Huy Đức (Hình: Facebook Truong Huy San)
“Đừng sợ tập trung quyền lực vào một người. Nếu tôn trọng các nhánh quyền lực nhà nước theo thẩm quyền được ghi trong Hiến Pháp thì không ai có thể lạm quyền dù họ là nguyên thủ. Nước cũng chỉ nên có một “vua.” Ai cũng muốn đứng đầu. Ai cũng làm chính trị mà thiếu một người kỹ trị thì chính trường rất dễ thành đất “quần ngư tranh thực”; thị trường chỉ là chợ đen; hành chính rối ren và xã hội không thể nào ổn định.” – vẫn Huy Đức viết trong bài “Nhất thể hóa.”
Thế nhưng ít ai quên được rằng vào năm 2013 khi Nguyễn Phú Trọng còn bất lực trước một “đồng chí X” không thể kỷ luật được, ông Trọng đã từng than vãn “không nên tập trung quá nhiều quyền lực vào một người mà khó kiểm soát” như cái cách gián tiếp tố cáo tham vọng chính trị của Nguyễn Tấn Dũng. Giờ đây, ông Trọng lại đang đi vào vết xe đổ của Nguyễn Tấn Dũng.
Đã thành một thói quen, không ít người quan tâm đến biến động chính trị trong nội bộ đảng và chiến dịch được tuyên truyền là “chống tham nhũng” của Tổng Bí Thư Trọng ngày càng dựa vào những tin tức, dù được thể hiện rõ ràng hay mơ hồ lấp lửng, của Huy Đức để nhận định và dự đoán về tương quan chính trị cùng những biến động, biến cố có thể xảy ra trong tương lai gần. Đặc biệt là về “ai sắp bị bắt” hay “ai sắp chết”… Với lợi thế có được nhiều tin tức nội bộ và thâm cung bí sử, Huy Đức đã trở thành một cây bút tín hiệu ghê gớm. Vào giữa năm 2017, chỉ một dòng status lấp lửng của cây bút quá thâm này về số phận đại gia Trần Bắc Hà đã khiến thị trường chứng khoán Việt Nam suýt rơi vào hoảng loạn và lao dốc khiến mất đi $2 tỷ vốn hóa.
Sau “Bộ Tứ,” Huy Đức còn viết khá nhiều bài chính luận cho đến nay. Nhưng càng viết, ông lại càng thể hiện mình mang tính “lề đảng” nhiều hơn hẳn mục tiêu dân chủ hóa mà ông vẫn nói đến bằng những từ ngữ trân trọng – như thể một tấm bình phong đẹp đẽ. Một số ý kiến đánh giá rằng có lẽ do thành công với tác phẩm “Bên thắng cuộc,” Huy Đức đã có chút ảo tưởng rằng ông có thể “hướng lái” dư luận, trong khi điều kiện cần để dư luận được chinh phục là sự thành tâm và khách quan trong phân tích và bình luận sự kiện chính trị, chứ không mang tư tưởng chỉ phục vụ cho đấu đá và thanh trừng phe phái.
Năm 2018. Một lần nữa, vào thời khắc có ý nghĩa như một sự kiện chính trị lớn của đảng cầm quyền chứ không phải của nhân dân và dân tộc, Huy Đức lại xuất hiện với bài PR lộ liễu cho ghế chủ tịch nước, không kém những ý tứ PR lộ diện cho ngai tổng bí thư trong bài “Bộ Tứ” vào năm 2015.
Huy Đức và Trần Đại Quang
Ngày 10 Tháng Tám, 2017, “cây bút tín hiệu” này phát ra một thông tin mang tính khẳng định trên Facebook của ông: “Đại Tướng Trần Đại Quang đi chữa bệnh từ tối 25 Tháng Bảy, 2017” trong bài viết có tựa đề “NGUYÊN THỦ QUỐC GIA & ĐỊNH CHẾ CHỦ TỊCH NƯỚC.” đoạn kết trong bài viết của Huy Đức, hẳn phải là ý quan trọng nhất được diễn giải: đã đến lúc ông Trần Đại Quang cần bàn giao quyền lực của mình cho người khác.
Chính vào thời gian trên đã bắt đầu xuất hiện dấu hiệu của hai cuộc điều tra quan trọng đối với Vũ “Nhôm” (Thượng tá tình báo Phan Văn Anh Vũ) và Út “Trọc” (Thượng tá quân đội Đinh Ngọc Hệ) – cả hai nhân vật này đều được cho là dính dáng sâu đậm, nếu không muốn nói chính là nhóm lợi ích sân sau của Trần Đại Quang. Biểu đồ đi lên của Quang đã có thể bắt đầu xuống dốc từ Tháng Bảy năm 2017.
Khoảng thời gian trên cũng là lúc mà trong dư luận bắt đầu hiện ra lời đàm tiếu về tình trạng “không nhìn mặt nhau” giữa Trần Đại Quang và Nguyễn Phú Trọng, về một hố phân cách lớn giữa Văn Phòng Chủ Tịch Nước và Văn Phòng Trung Ương Đảng, dù tình trạng như thế có thể đã xảy ra từ cuối năm 2016 khi Tổng Bí Thư Trọng bắt đầu “nhóm lò.”
Nhưng đến giờ này, Trần Đại Quang đã biến ra người thiên cổ, tạo nên một bất ngờ lớn vì theo nhiều dư luận trước đó, bất cứ kẻ nào cũng có thể chết, nhưng một viên tướng công an quá thâm niên, thủ đoạn và lọc lõi chính trường như Quang thì làm sao bị kết thúc như Nguyễn Bá Thanh.
Nhất thể hóa: nhân dân và đất nước được cái gì?
Cơ hội trời ban bất thần đến từ cái chết không thể lường trước của Trần Đại Quang. Dịp “ngàn năm có một” để hợp nhất hai chức danh chủ tịch nước và tổng bí thư chính là vào lúc này.
Nhưng sau tất cả những màn diễn đen đỏ sặc máu trên sân khấu của giới diễn viên chỉ tranh quyền đoạt vị, nhân dân và đất nước được cái gì?
Làm thế nào có thể tin được, dù chỉ một là một chút, về “nền cộng hòa bán tổng thống” mà Huy Đức đã phác ra một cách đầy chủ ý mà sẽ khiến một số người dân một lần nữa tiếp tục nuôi hy vọng vào một cái gì đó mà từ quá lâu nay đã trở nên hão huyền, mị dân và lừa gạt?
Thể chế cộng hòa bán tổng thống có lẽ là giai đoạn quá độ để tiến tới nền cộng hòa tổng thống, tức một thể chế phải có cơ chế tam quyền phân lập và đa đảng, tức ít ra cũng phải dân chủ hơn khá nhiều so với chế độ độc đảng đang ngự trị ở Việt Nam. Nhưng thực tế từ sau Đại Hội 12 lại ngược hẳn với bức tranh “dân chủ” mà Huy Đức phác vẽ trong bài “Bộ Tứ” và những bài viết sau đó: Nguyễn Phú Trọng vẫn kiên định chủ nghĩa xã hội, kiên định đàn áp tư tưởng đa nguyên và đa đảng, và vẫn bóp nghẹt các quyền tự do của người dân về biểu tình, lập hội, báo chí, ngôn luận…
Về sau này, người ta nhìn lại tinh thần “thoát Trung” của Nguyễn Phú Trọng mà Huy Đức nhận định và hy vọng trong bài “Bộ Tứ.” Nhiều người đã cho rằng nhận định này rất thiếu cơ sở thực tế. Và thực tế từ đó đến nay vẫn luôn là một Nguyễn Phú Trọng chưa có được bất kỳ biểu hiện rõ rệt nào về ý chí xa rời Bắc Kinh, nếu không muốn nói là ngược lại.
Vậy thì làm thế nào để có thể tin rằng Nguyễn Phú Trọng, sau khi đã được ngồi thêm vào cái ghế chủ tịch nước và trở nên “chính danh,” sẽ mở mang dân chủ và nhân quyền cho người dân và xã hội Việt Nam? Hay sẽ là một ông vua theo đúng nghĩa để đưa xã hội Việt Nam trở về thời phong kiến và có thể cả một thời kỳ Bắc thuộc mới?
Làm thế nào để có thể tin rằng vào một buổi sáng đẹp trời nào đó, Nguyễn Phú Trọng tỉnh giấc và tự nhiên muốn “trở về làm người tử tế” (như cách sám hối không nước mắt của Nguyễn Tấn Dũng), hay hợp nhất hai chức danh chủ tịch nước và tổng bí thư chỉ nhằm thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân về sĩ diện đối ngoại trong khi chẳng mang lại lợi ích gì cho dân và cho nước?
Sau nhiệm kỳ đầu hoàn toàn mờ nhạt và thất thế trước Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, Tổng Bí Thư Trọng đã trầy trật qua hơn nửa nhiệm kỳ thứ hai với thành tích chống tham nhũng rất khiêm tốn nhưng lại phân biệt đối xử quá rõ giữa “củi nhà” và “củi rừng,” trong khi nạn cường hào ác bá từ trung ương đến các địa phương vẫn tiếp tục nổi lên như giặc giã, còn người dân Việt thì ngày càng trở nên thống khổ và khốn cùng, bị đè nén bởi vô số sắc thuế thu cùng diệt tận mà dân gian phải phẫn uất gầm lên: “Chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy!”…
Phạm Chí Dũng




