Thứ Năm, 1 tháng 8, 2019

Sự thật về cái chết của ông Trần Bắc Hà


Sự thật về cái chết của ông Trần Bắc Hà


AdminTDChúng tôi nhận được bài viết sau đây, cung cấp nhiều thông tin quan trọng về cái chết của ông Trần Bắc Hà, tuy nhiên có một số chi tiết trong bài mà chúng tôi không có điều kiện kiểm chứng. Trong thời buổi trong nước không có tự do thông tin, người dân khó có thể biết được những sự thật mà lẽ ra họ cần phải biết.

Do vậy, chúng tôi xin được phổ biến bài viết này nhằm mục đích bạch hóa thông tin, để độc giả có cái nhìn rõ hơn về những gì đang diễn ra bên trong trại giam đã giam giữ ông Trần Bắc Hà. Phổ biến những thông tin này chỉ nhằm mục đích cung cấp thêm thông tin cho độc giả, không nhằm mục đích bênh vực hay ủng hộ ông Trần Bắc Hà, cũng như không đứng về bất kỳ phe phái nào.
Chúng tôi hoan nghênh các ý kiến phản bác những quan điểm nêu ra trong bài viết này và rất mong sẽ nhận được nhiều bài viết đóng góp có liên quan, để mọi người cùng biết rõ hơn về sự thật.
***
Nguyễn Thắng
1-8-2019
Sự thật về cái chết của ông Trần Bắc Hà, trách nhiệm của Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc – Cục trưởng C03, Bộ Công an và các điều tra viên có liên quan
Chúng tôi được cung cấp thông tin để tập hợp viết bài này là từ những cán bộ, nhân viên đang công tác tại Trại giam T16 – Bộ Công an, Trại giam 771 Bộ Quốc phòng, các cán bộ tại Cục C03 – Bộ Công an, Bệnh viện 198 – Bộ Công an và Bệnh viện quân y 105 và thành viên nhóm pháp y hình sự đã mổ, khám nghiệm tử thi ông Trần Bắc Hà. Đây là những người đã có thời gian làm việc, trực tiếp chứng kiến về quá trình ông Trần Bắc Hà bị tạm giam, bị điều tra, hỏi cung và quyết tâm tuyệt thực, chết trong trại giam 771 – Bộ Quốc phòng.
Tuy nhiên, vì nhiều lý do mà những cán bộ này không dám công khai sự thật, nhất là họ sợ trả thù của những người có trách nhiệm liên quan đến cái chết của ông ấy, trong khi những người này đang nắm trong tay quyền lực có thể quyết định đến sinh mạng chính trị và nghề nghiệp của họ. Do đó, chúng tôi xin được không nêu tên cụ thể những người đã cung cấp thông tin để bảo vệ an toàn cho họ.
Chúng tôi cũng biết rằng, cho đến nay, sự thật về cái chết của ông Trần Bắc Hà vẫn đang bị bưng bít do có nhiều tình tiết liên quan đến trách nhiệm của cá nhân Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc, Cục trưởng C03- Bộ Công an và một số cơ quan, cá nhân có liên quan. Cho dù bài viết và những thông tin về sự thật này gửi đến các cơ quan truyền thông, báo chí chính thống trong nước thì cũng không một cơ quan nào dám đăng tải. Do vậy chúng tôi không còn cách nào khác là đưa bài viết và sự thật này lên mạng xã hội và các kênh truyền thông, báo chí ngoài nước.
Chúng tôi khẳng định việc đưa ra công luận về sự thật về cái chết của ông Trần Bắc Hà là:  
1- Không nhằm ủng hộ, bênh vực cho ông này, bởi vì ông ấy phạm pháp đến đâu thì phải chịu trách nhiệm đến đó;
2- Vì lý do nhân đạo, chúng tôi quyết định với mong muốn đối xử công bằng, ông ấy vẫn có tư cách là con người, không thể đối xử với ông ấy như vậy được.
3- Không có ý định, mưu đồ chính trị lợi dụng vụ việc này để hạ uy tín, phá hoại sự nghiệp, công danh đối với một ai;
4- Không có ý đồ gì ngoài việc: (1) bảo vệ sự đúng đắn, trong sạch trong hoạt động tư pháp của các cơ quan thực thi pháp luật về tố tụng hình sự; (2) bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, những quyền cơ bản của con người đã được Hiến định;
Chúng tôi cũng nhận thấy, có nhiều cơ quan, cá nhân, người có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm liên quan đến cái chết của ông Trần Bắc Hà, bao gồm: (1) trách nhiệm của Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc- Cục trưởng Cục C03 và các điều tra viên Cục C03 trực tiếp thụ lý vụ án điều tra vụ án; (2) trách nhiệm của lãnh đạo Vụ 5 – Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Kiểm sát viên được giao trực tiếp theo dõi vụ án; (3) trách nhiệm của Giám thị và cán bộ quản giáo Trại 771- Bộ Quốc phòng; (4) trách nhiệm của Lãnh đạo Bệnh viện 198 Bộ Công an và bác sỹ trực tiếp khám, kết luận về sức khoẻ bị can Trần Bắc Hà….
Trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi sẽ nêu cụ thể về: (1) tình trạng sức khoẻ hoàn toàn khoẻ mạnh của ông Trần Bắc Hà trước khi bị bắt; (2) quá trình ông Trần Bắc Hà bị bắt, tạm giam tại Trại giam T16 – Bộ Công an và những gì ông đã khai báo: lý do chuyển sang giam tại Trại 771 – Bộ Quốc phòng; (3) quá trình ông Trần Bắc Hà bị biệt giam tại Trại 771 và suy yếu về sức khoẻ; (4) nguyên nhân làm cho ông ấy tuyệt thực, lý do bị chết trong trại giam.
Đồng thời, chúng tôi bước đầu phân tích, chỉ ra trách nhiệm hình sự của Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc – Cục trưởng Cục C03 và các điều tra viên Cục C03 trực tiếp thụ lý vụ án điều tra vụ án, trong đó Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc- Cục trưởng Cục C03 phải là người chịu trách nhiệm chính đối với cái chết của ông Trần Bắc Hà. Còn đối với trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan khác có liên quan, chúng tôi sẽ phân tích ở các bài tiếp theo.
Chúng tôi mong muốn cơ quan có thẩm quyền làm rõ sai phạm, trách nhiệm của những cá nhân, tổ chức liên quan, do đó trước mắt kiến nghị:
1. Cơ quan điều tra – Viện kiểm sát nhân dân tối cao: tiến hành khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can về tội giết người, tội dùng nhục hình; tiến hành điều tra, làm rõ sai phạm và trách nhiệm hình sự của Thiếu tướng nguyễn Duy Ngọc- Cục trưởng Cục C03 và các điều tra viên Cục C03 trực tiếp thụ lý vụ án đã làm cho ông Trần Bắc Hà chết trong tù.
2. Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận:
– Thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra Cục C03- Bộ Công an và Thiếu tướng nguyễn Duy Ngọc- Cục trưởng Cục C03, Phó thủ trưởng Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an, cùng các Điều tra viên Cục C03 trực  tiếp điều tra vụ án (theo quy định tại Điều 13 – Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015 về Giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử).
– Thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động kiểm sát của Vụ 5- Viện kiểm sát nhân dân tối cao được giao trách nhiệm theo dõi việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra vụ án có bị can Trần Bắc Hà (theo quy định tại Điều 10 – Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 về Giám sát hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân).
I/ SỨC KHOẺ ÔNG TRẦN BẮC HÀ TRƯỚC KHI BỊ BẮT
Từ năm 2010, ông Trần Bắc Hà đã bị bệnh gan và tiến hành điều trị, đến năm 2012, sang Bệnh viện Quốc tế Singapore điều trị, phẫu thuật cắt một phần lá gan. Sau khi phẫu thuật, sức khoẻ ổn định, minh mẫn, thông tuệ, làm việc bình thường, không phải nghỉ ốm, hàng năm chỉ sang Singapore một tuần để kiểm tra kết hợp nghỉ dưỡng. Sau mỗi lần kiểm tra đều kết luận sức khoẻ tốt, không có bệnh gì.
Trong thời gian này, ông Bắc Hà đã biết đến ăn kiêng, bỏ rượu bia, thuốc lá, biết tìm đến Phật pháp (tụng kinh, niệm Phật) để có sự cân bằng tinh thần.
Trước khi bị bắt 2 tháng, tháng 9/2018 ông ấy tiếp tục sang Singapore để kiểm tra sức khoẻ định kỳ hàng năm và kết quả tốt, không có bệnh gì, chỉ có huyết áp hơi cao, song đó là chuyện bình thường của người cao niên.
(Chúng tôi có đầy đủ hồ sơ sức khoẻ của ông Trần Bắc Hà đi khám, điều trị tại Singapore, khẳng định sức khoẻ ông ấy hoàn toàn bình thường, không phải bị bệnh ốm yếu, ung thư như báo chí đăng tải)
II/ TRONG THỜI GIAN ÔNG TRẦN BẮC HÀ BỊ BẮT TẠM GIAM
2.1. Tại Trại T16 – Bộ Công an.
Sau khi bị bắt tháng 11/2018 và tạm giam tại trại T16 Bộ Công an, ông Trần Bắc Hà hoàn toàn minh mẫn, tỉnh táo, sức khoẻ tốt, không có bệnh tật gì.
Mỗi lần đi lấy cung, ông ấy đều yêu cầu có luật sư theo luật nhưng không được Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc, Cục trưởng C03 chỉ đạo đáp ứng, còn các lời khai của ông này chủ yếu là phản bác lại các cáo buộc phạm tội trong hầu hết các vụ việc, các câu trả đều lô gích, sắc sảo, kín kẽ, thông tuệ, không có tình tiết nào sơ hở để bị buộc tội, ông ấy chỉ đuối lý trong vụ án BIDV cho công ty Bình Hà vay vốn thực hiện dự án trại bò tại Hà Tĩnh.
2.2. Lý do chuyển tạm giam ông Trần Bắc Hà từ Trại T16 sang Trại 771
Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc, Cục trưởng C03 trực tiếp chỉ đạo việc chuyển ông Trần Bắc Hà sang tạm giam tại trại 771 Bộ Quốc phòng theo hình thức biệt giam (một mình một buồng giam) vào đúng thời gian khởi tố bị can Trần Duy Tùng (tháng 3/2019) liên quan đến Công ty Bình Hà vay vốn thực hiện dự án trại bò tại Hà Tĩnh, mục đích nhằm:
1- Gây sức ép lên thể xác buộc bị can khai báo.
2- Đảm bảo bí mật hoạt động điều tra (chúng tôi sẽ có bài viết tiếp theo về sự thật lý do đảm bảo bí mật hoạt động điều tra).
2.3. Trong thời gian bị biệt giam tại trại 771 – Bộ Quốc phòng
a) Về điều kiện giam giữ tại Trại 771
Điều kiện giam giữ theo hình thức biệt giam đối với ông Trần Bắc Hà tại trại 771 Bộ Quốc phòng hết sức hạn chế: buồng giam rộng 6 m2, có duy nhất một lỗ thoáng có song sắt rộng 20 cm, dài 40 cm; vật dụng sinh hoạt không có gì, phải nằm sàn; Trại chỉ cung cấp cho một xô nhựa và một cái bô để đi vệ sinh, nước uống hạn chế chỉ 1,5 lít nước/một ngày trong điều kiện thời tiết nắng nóng gay gắt khiến cho điều kiện môi trường sống trong buồng giam hết sức khắc nghiệt; điều kiện y tế Trại 771 cũng rất kém, chỉ có một phòng cấp phát thuốc, không có Trạm xá.
b) Về việc tuyệt thực của ông Trần Bắc Hà
Trong suốt thời gian bị biệt giam, ông Trần Bắc Hà thường xuyên ngồi thiền, niệm Phật, tụng kinh sám hối và tập khí công, do đó tình trạng sức khoẻ tốt, tinh thần tỉnh táo, các quản giáo đều bất ngờ vì khả năng chịu đựng của ông ấy.
Do cái nắng mùa hè gay gắt liên tục từ tháng 5 đến đầu tháng 7/2019, có khi nhiệt độ buồng biệt giam lên tới gần 50C, ông Trần Bắc Hà có biểu hiện ốm yếu, cơ thể lở loét vào đầu tháng 7/2019. Khi đó, Trại 771 đã có văn bản gửi Cục C03- Bộ Công an nghị nghị đưa đi khám bệnh. Trên cơ sở báo cáo tình hình của hai Điều tra viên Cục C03 được giao thụ lý vụ án, Cục C03 đã đưa bị can này đi khám tại Bệnh viện 198 mà không có sự chứng kiến của gia đình, thân nhân theo quy định của pháp luật. Bệnh viện 198 đã tiến hành các xét nghiệm một cách sơ sài trong một buổi sáng và đưa ra kết luận sức khoẻ bị can tốt, tim, gan, phổi, dạ dày hoạt động bình thường, không có vấn đề gì về sức khoẻ, chỉ có huyết áp hơi cao lên đến 140, song đó là bệnh của người già.
(Chúng tôi có hồ sơ y bạ về khám bệnh sơ sài và kết luận của Bệnh viện 198)
c) Về nguyên nhân ông Trần Bắc Hà chết trong trại 771
Sau khi đi khám về, ông Trần Bắc Hà tiếp tục yêu cầu Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc, Cục trưởng C03 trực tiếp chỉ đạo Cục C03 cho ông ấy đi bệnh viện điều trị bệnh, hoặc cho chuyển trại giam, nếu không ông ấy sẽ chết trong trại. Không được đáp ứng yêu cầu, từ ngày 12/7/2019, ông Bắc Hà tuyên bố và bắt đầu tuyệt thực, không ăn cơm, không uống nước, thậm chí cán bộ quản giáo đã phải xúc cháo, sữa cho cho ăn, song ông ấy nhè ra không chịu nuốt.
Trước tình hình đó, cán bộ quản giáo đã báo cáo và Trại 771 đã có văn bản thông báo tình trạng tuyệt thực của bị can cho Cục C03 – Bộ Công an. Cục C03 đã cử hai điều tra viên đến trại 771 nắm tình hình, động viên, nhưng ông này đã không nghe. Hai điều tra viên này đã về báo cáo bằng văn bản với lãnh đạo Cục C03, song thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc – Cục trưởng Cục C03 nói rằng “kệ xác nó”.
Đến ngày 16/7/2019, khi sức khoẻ của ông ấy đã giảm sút nghiêm trọng, Trại 771 tiếp tục có công văn lần 2 thông báo cho Cục C03, đồng thời gọi điện thoại trực tiếp cho Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc, Cục trưởng C03 biết tình trạng thực tế Tuy nhiên, cho đến chiều ngày 17/7/2019, hai điều tra viên Cục C03 mới lên đến Trại 771 và cùng quản giáo mở cửa buồng biệt giam lúc 17 giờ 30, khi đó đã thấy ông Trần Bắc Hà nằm co bất động, thân thể đã chết lạnh cứng (chúng tôi có hình ảnh và video clip về hiện trường ông ấy bị chết nằm co trong buồng biệt giam, song vì lý do nhân đạo đối với người đã khuất, đồng thời không muốn xới thêm vào nỗi đau thương mất mát của gia đình ông ấy, vì vậy chúng tôi không đưa hình ảnh và clip này lên)
Tối 17/7/2019, Trại 771 điện thoại cho các cơ quan liên quan đến làm việc, Bệnh viện 198 – Bộ Công an do đã biết thông tin ông Bắc Hà đã bị chết trong trại giam nên chối bỏ trách nhiệm, đề nghị Trại 771 liên hệ đúng tuyến Bệnh viện quân y 105 Sơn Tây. Khi có mặt đầy đủ, các cơ quan liên quan (Cục C03 – Bộ Công an, Vụ 5 – Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bệnh viện quân y 105…) tiến hành khám nghiệm hiện trường và thống nhất kịch bản đưa thông tin báo chí là bị can có tiền sử ốm yếu, mắc bệnh ung thư gan và bị chết trên đường đi cấp cứu.
Khoảng hơn 05 giờ sáng hôm sau, ngày 18/7/2019, xe cấp cứu của Bệnh viện quân y 105 mới chở thi thể ông Trần Bắc Hà đến Bệnh viện quân y 105. Bệnh viện đã yêu cầu đưa nạn nhân vào nhà xác và lập Biên bản tiếp nhận tử thi. Tiếp theo, việc mổ pháp y khám nghiệm tử thi đối với ông Trần Bắc Hà được tiến hành, phía gia đình ông Trần Bắc Hà đến chứng kiến chỉ có một cán bộ cấp Ban của ngân hàng BIDV và duy nhất một người anh trai kế trên ông Trần Bắc Hà. Người anh trai này tên Nam, gia đình ở Hà Nội, trước đây nguyên là một Phó Vụ trưởng thuộc Văn phòng Chính phủ đã về hưu, gia đình thường gọi là ông Chín (người con thứ chín), còn ông Bắc Hà là người con út thứ mười.
Kết quả khám nghiệm tử thi cho thấy các bộ phận nội tạng trong cơ thể ông ấy còn nguyên vẹn, Tim, Gan không bị tổn thương gì, trong miệng ngậm một miếng bánh quy, trong dạ dạy không có thức ăn, bị lở loét da thịt vùng sát gáy, lưng, hai bờ vai và hai mạn sườn, điều đó chứng tỏ ông Trần Bắc Hà bị kiệt sức, chết đói do tuyệt thực, trước khi chết bị ốm yếu.
Thi thể ông được chuyển đi bảo quản lạnh tại Bệnh viện Bạch Mai lúc 01 giờ ngày 19/7/2019, được gia đình tổ chức khâm liệm ngày 22/7/2019 và chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh làm tang lễ, an táng cùng ngày.
III/ TRÁCH NHIỆM CỦA THIẾU TƯỚNG NGUYỄN DUY NGỌC – CỤC TRƯỞNG CỤC C03 VÀ CÁC ĐIỀU TRA VIÊN CỤC C03 – BỘ CÔNG AN
3.1. Trách nhiệm của Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc – Cục trưởng Cục C03
Trách nhiệm chính dẫn đến cái chết của bị can Trần Bắc Hà trong thời gian bị gửi biệt giam tại Trại T771 thuộc về thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc – Cục trưởng Cục C03 do đã có các hành vi vi phạm pháp luật sau:
a) Có hành vi dùng nhục hình với bị can Trần Bắc Hà và phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội dùng nhục hình quy định tại Điều 373 Bộ Luật hình sự 2015.
– Một làtrong suốt thời gian hơn 7 tháng bị tạm giam tại trại T16 – Bộ Công an và biệt giam tại Trại 771 – Bộ Quốc phòng, ông Trần Bắc Hà không được Cục C03 do Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc, Cục trưởng C03 chỉ đạo cho phép được thực hiện các quyền của bị can theo luật định, như:
– Không được thân nhân thăm nuôi theo quy định pháp luật, bản thân gia đình cũng không biết bị can bị tạm giam ở đâu để tiếp tế;
– Không có luật sư tham gia các buổi hỏi cung để bảo vệ quyền và lợi ích cho bị can, mặc dù bị can này đã có sẵn luật sư từ trước.
– Nhiều lần hỏi cung, Cục C03 cũng không thực hiện việc ghi hình, ghi âm buổi hỏi cung theo đúng quy định của pháp luật.
Như vậy, Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc, Cục trưởng C03 đã vi phạm nghiêm trọng  quyền của bị can được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự để phòng tránh oan sai, tra tấn, dùng nhục hình, bức cung đối với bị can.
– Hai là, Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc, Cục trưởng Cục C03 đã chỉ đạo chuyển sang trại giam 771 Bộ quốc phòng đối với bị can Trần Bắc Hà để đảm bảo bí mật hoạt động điều tra là không đúng quy định, bởi vì:
– Bị can này bị khởi tố với tội danh thuộc loại vụ án kinh tế đơn thuần, không thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
– Trong khi việc chuyển bị can sang tạm giam tại Trại 771 chỉ áp dụng đối bị can trong các vụ án đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, chuyên án ma tuý, hoặc vụ án mà bị can phạm tội đặc biệt nghiêm trọng liên quan đến nhiều bí mật nhà nước… vụ án kinh tế, việc
Việc Cục C03 thực hiện chỉ đạo của Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc, Cục trưởng Cục C03 chuyển bị can Trần Bắc Hà sang biệt giam (giam giữ một mình một buồng) tại trại T771 với điều kiện sống khắc nghiệt, có chế độ sinh hoạt và điều kiện y tế hạn chế đã làm cho bị can này đến đầu tháng 7/2019 bị suy giảm sức khoẻ, phải đưa đi Bệnh viện 198 để khám bệnh.
Như vậy, việc không cho phép bị can được hưởng quyền của bị can theo luật định, việc chuyển bị can sang Trại 711 không đúng quy định để giam giữ theo hình thức biệt giam trong những ngày hè nắng nóng… của Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc, Cục trưởng Cục C03 rõ ràng có đủ dấu hiệu mặt khách quan của hành vi sử dụng nhục hình, song là cách dùng nhục hình hết sức tinh vi, lách luật nhằm gây đau đớn về thể xác và tinh thần đối với bị can Trần Bắc Hà.
Hành vi này đã xâm phạm quyền con người, vi phạm Công ước chống tra tấn là 01 trong 09 Công ước cốt lõi về quyền con người của Liên Hợp Quốc mà Việt Nam đã tham gia từ năm 1987; bị cấm trong hoạt động điều tra được quy định tại Khoản 2 Điều 14 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015 về những hành vi bị nghiêm cấm là: Bức cung, dùng nhục hình và các hình thức tra tấn hoặc đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, hạ nhục con người hay bất kỳ hình thức nào khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Hành vi dùng nhục hình của Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc đã khiến bị can tự sát bằng hình thức tuyệt thực, đã vi phạm vào quy định tại Khoản 1, Điểm b Khoản 3 Điều 373 Bộ Luật hình sự 2015, đó là:
 “1. Người nào trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. 2. …. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm: a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại về sức khỏe cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; b) Làm người bị nhục hình tự sát”.
Về mặt chủ quan, Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc – Cục trưởng Cục C03 đã cố ý và từng bước tính toán rất chi tiết về việc điều chuyển bị can Trần Bắc Hà sang biệt giam tại Trại T771, biết trước điều kiện giam giữ hạn chế, chế độ sinh hoạt và y tế hạn chế sẽ hành hạ thân thể bị can.
b) Có hành vi giết người, phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người do cố ý thúc đẩy bị can Trần Bắc Hà vào tình trạng tuyệt thực bằng hành vi dùng nhục hình tinh vi, đồng thời bỏ mặc để bị can tuyệt thực đến chết.
Bên cạnh phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi dùng nhục hình, Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc – Cục trưởng Cục C03 đã cố tình không thực hiện đúng quyền hạn, trách nhiệm của mình theo uy định tại Khoản 1 Điều 52 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015 quy định về Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra:
Thủ trưởng Cơ quan điều tra có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: a) Chỉ đạo, điều hành, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch công tác, quyết định các vấn đề về công tác của Cơ quan điều tra do mình làm Thủ trưởng; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp trên…”;
Mặc dù Trại 771 đã thông báo, điều tra viên thụ lý vụ án cũng đã báo cáo về tình trạng tuyệt thực và sức khoẻ suy sụp nghiêm trọng của bị can Trần Bắc Hà, song thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc, Cục trưởng Cục C03, Phó thủ trưởng Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an, người có quyền lãnh đạo, trực tiếp chỉ đạo điều tra vụ án đã không hề có bất kỳ một ý kiến chỉ đạo nào theo thẩm quyền, trách nhiệm của mình nhằm ngăn chặn, xử lý, giải quyết tình trạng tuyệt thực của bị can này, trong khi đó việc ngăn chặn, xử lý tình trạng tuyệt thực đó hoàn toàn có thể dễ dàng thực hiện nhanh chóng. Hành vi cố tình bỏ mặc với quan điểm “kệ xác nó” của Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc nhằm để cho bị can chết trong trại giam có đầy đủ dấu hiệu mặt khách quan, chủ quan, khách thể, chủ thể và hậu quả của cấu thành tội phạm Tội giết người quy định tại Khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự 2015.
3.2. Trách nhiệm của các điều tra viên Cục C03 trực tiếp thụ lý vụ án
Các điều tra viên Cục C03 được giao thụ lý vụ án đã có báo cáo bằng văn bản gửi Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc – Cục trưởng Cục C03, Phó Thủ trưởng Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an về tình trạng sức khoẻ nguy kịch đến tính mạng do tuyệt thực của bị can Trần Bắc Hà và đề xuất đưa bị can đi chữa bệnh. Khi Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc – Cục trưởng Cục C03, Phó Thủ trưởng Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an cố tình bỏ mặc, không chỉ đạo để ngăn chặn tình trạng tuyệt thực của bị can Trần Bắc Hà, các điều tra viên Cục C03 được giao thụ lý vụ án đều biết rõ khả năng suy kiệt sức khỏe có nguy cơ tử vong của bị can nếu không thực hiện đề xuất đưa bị can đi chữa bệnh.
Tuy nhiên trong trường hợp này, đúng ra là các điều tra viên phải báo cáo, nhưng lại không có báo cáo bằng văn bản với những cấp có thẩm quyền, bao gồm Thủ trưởng Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an là thượng tướng Lê Quý Vương, và Kiểm sát viên Vụ 5- Viện kiểm sát nhân dân tối cao được giao theo dõi vụ án. Việc không báo cáo nói trên đã làm cho các cấp có thẩm quyền không nắm được tình hình, thực trạng nguy cấp để kịp thời có biện pháp giải quyết, ngăn chặn tình trạng tuyệt thực đến chết của bị can Trần Bắc Hà.
Bên cạnh đó, Các điều tra viên Cục C03 được giao thụ lý vụ án còn vi phạm các quy định pháp luật tố tụng hình sự về việc không cho bị can được thực hiện các quyền được người thân thăm nuôi, được có luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong quá trình hỏi cung; không ghi âm, ghi hình các buổi hỏi cung.
Do vậy, các điều tra viên này đã không thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của điều tra viên được quy định tại Điều 53 – Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự là:
“1. Điều tra viên được tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh và các hoạt động điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra theo sự phân công của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra. 2. Điều tra viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự khi được phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và điều tra vụ án hình sự. 3. Điều tra viên có trách nhiệm sau đây: a) Áp dụng các biện pháp theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và pháp luật khác có liên quan để điều tra, xác định sự thật vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ; b) Tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra….”
Do không thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình dẫn đến cái chết của bị can Trần Bắc Hà, hành vi của các điều tra viên Cục C03 được giao thụ lý vụ án có đầy dủ dấu hiệu cấu thành Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 360 Bộ luật hình sự 2015, đó là:
 Người nào có chức vụ, quyền hạn vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao thuộc một troncác trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 179, 308 và 376 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm: a) Làm chết người;…”
Nguon: Tieng Dan

VIỆT NAM ƠI, NGỪNG ẢO TƯỞNG - VÌ SAO ĐẤT NƯỚC KHÔNG THỂ PHÁT TRIỂN

VIỆT NAM ƠI, NGỪNG ẢO TƯỞNG - VÌ SAO ĐẤT NƯỚC KHÔNG THỂ PHÁT TRIỂN



Vào những năm giữa của thập niên 70 sau khi thành công thống nhất đất nước chung một màu cờ, chúng ta đã đừng tự hào và mạnh miệng tuyên bố rằng: “….sẽ bắt kịp Nhật trong một thập niên.” Rồi mọi người tin như thật.

Nhưng những năm tháng tiếp diễn là một thời kỳ đen tối của dân tộc và tụt hậu cho đất nước. Việt Nam từ một quốc gia với nền công nghiệp tiềm năng đã bị huỷ diệt để thực hiện một mô hình chính trị kinh tế mơ hồi. Cuộc thí nghiệm xã hội này đã khiến toàn quốc chết đói và hàng triệu người phải bỏ xứ ra đi tìm cơ hội ở phương trời mới.

Nhưng chỉ sau một thập niên thất bại, những người dẫn đầu đất nước này đã bắt đầu nhận ra sai lầm và thực hiện chính sách tái xây dựng nền kinh tế với tên gọi Đổi Mới. Ngay lập tức, sự khác biệt được trông thấy rõ rệt. Rồi sau đó là tái ngoại giao với Mỹ và Tây Phương, kết quả là sự mở cửa với thế giới sau một quá trình xung đột tư tưởng.

Mọi người lại vui mừng và tin rằng với tài nguyên trời cho, trí tuệ ưu việt cộng với tiềm năng phát triển hiện có, Việt Nam sẽ trở thành một ‘Con Hổ’ kinh tế như khối Đông Á. Những năm tháng trôi qua tiếp theo thì ai cũng tưởng như thật. Với mức tăng trưởng GDP thuộc hàng top thế giới, lượng vốn đầu tư quốc tế không ngừng đổ vào và báo chí tứ phương liên tục ca ngợi - Việt Nam chắc chắn sẽ là một tiểu cường quốc của khu vực.

Rồi bỗng dưng mọi thứ gần như sụp đổ. Việt Nam bị kẹt trong cái bẫy phát triển với GDP đầu người ở mức $2,500. Người dân nghèo thì phải cầm nhà để đi xuất khẩu lao động, các cô gái miền Tây thì xếp hàng để người tuổi cha chú mình coi mặt để làm vợ xứ người, các công nhân phải đi làm với đồng lương rẻ mạt không đủ dư, người lao động thì nhìn giá nhà đất tăng bỏ lại lương phía sau và giới trẻ đua nhau xuất ngoại.

Họ từ hào khoe với thiên hạ rằng: “Việt Nam đã sản xuất được xe hơi,” “Landmark 81 là toà nhà cao nhất Đông Nam Á,” “Việt Nam sẽ vượt mặt kinh tế Singapore” và “Những thương hiệu Việt như Zalo, Luxstay hay Viettel đang chinh phục và không sợ các đối thủ quốc tế.”

Niềm tin bỗng trở thành sự bất mãn, lạc quan bây giờ trở thành tăm tối. Vì cái gọi là phát triển kinh tế bấy lâu nay chỉ là phồn vinh giả tạo được xây dựng bởi những dự án bất động sản và công ty nhà nước bỏ tiền mua tài sản nhưng rỗng tuếch chất xám. Vì đằng sau những thứ được tung hô là thành tựu chỉ là những vỏ bọc không hồn.

Họ vẫn hy vọng rằng đất nước này sẽ bứt phá nhưng lại đang xây một cái nhà không cột trụ. Việt Nam không thể nào trở thành một nước giàu và mạnh được. Không phải vì trí tuệ của thế hệ trẻ kém hay tiềm năng miền đất này vô dụng, mà vì cái nền tảng để xây dựng nó đã lỗi từ ban đầu.

Đất nước đầy nghị lực này không thể nào vươn lên với bạn bè tứ xứ không phải những gì nó đang có, mà vì những gì đang thiếu:

1. Không có cạnh tranh chính trị - Như bao lĩnh vực khác, một khi có sự độc tôn thì nơi đó dường như sẽ không có sự tiến triển vì chẳng có động lực để cải tiến. Ai đang nắm sự độc quyền hiện này?
2. Không có tư hữu - Con người chỉ có động lực khi họ được quyền sở hữu thành quả của mình. Khi tất cả của cải thuộc về tổ chức ở thủ đô thì sẽ chẳng có ai chịu bỏ công và cố gắng để làm giàu cho người khác cả.
3. Không có tự do ngôn luận - Nhân tài chỉ có thể bứt phá trong một bầu trời tự do chứ không thể nào phát triển trong khuôn khổ kiểm duyệt.
4. Không có hệ thống pháp lý công bằng - Khi luật pháp chỉ bảo vệ một số nhỏ để đàn áp số lớn thì khác gì luật băng đảng đường phố. Ai sẽ còn niềm tin vào nguyên lý công bằng để yên tâm làm ăn.
5. Không có trong sạch trong hành chính - Khi bạn làm giấy tờ bị xác nhiễu và kinh doanh bị vòi tiền thì còn gì niềm tin để ở lại cống hiến? Ai đó đang làm nản chí chất xám đất nước này?
6. Không có thị trường tự do - Khi nền kinh tế là sân chơi cho thiểu số lợi ích riêng thì ai còn ham muốn làm giàu để có nguy cơ bị dìm và tiêu diệt? Kinh tế nước này đang thuộc về ai?

Muốn cho ra đời những Samsung, Apple, Google hay Facebook thì hãy thả lỏng tư tưởng và để cho đất nước này bay bổng. Người dân không cần một nhóm người chỉ đạo, họ cần được tự do.

Một quốc gia sẽ chẳng trở nên thịnh vượng được nếu lý tưởng của tổ chức điều hành nó là ‘kinh tế tập trung’ dưới danh nghĩa CNXH. Một dân tộc không thể đột phá về thành quả khi họ bị kìm nén và kiểm soát ngôn luận. Một nền kinh tế không bao giờ không thể nào trở nên linh động và thu hút vốn khi nó là sân chơi riêng của các nhóm lợi ích. Đất nước Việt Nam này sẽ không bao giờ được thành chính mình khi bị thao túng bởi một nước khác thông qua những cá nhân không còn tin vào chính đất nước họ.

Đừng mơ đến chuyện tung bay khi đôi cánh bị siết trói. Việt Nam ơi, hãy ngừng ảo tưởng.

Ku Búa @ Cafe Ku Búa

BÃI TƯ CHÍNH SẼ CÓ SỐ PHẬN NHƯ GẠC MA?

BÃI TƯ CHÍNH SẼ CÓ SỐ PHẬN NHƯ GẠC MA?


Lúc này, mọi thông tin về Bãi Tư Chính (Vanguard Bank) đối với người Việt Nam hiện rất mơ hồ. Trên các thông tin bên ngoài dội về thì gọi là đối đầu, còn phía Hà Nội, thì gọi là đấu tranh. Nếu dựa trên những ngôn từ này, có thể tự lý giải rằng, Trung Quốc bằng nhiều cách như đang muốn vào trực tiếp Bãi Tư Chính chứ không chỉ là ngăn Việt Nam thăm dò và khai thác ở tại Lô 06.1 bể Nam Côn Sơn, phía tây bắc Bãi Tư Chính. Còn Việt Nam thì dùng tàu của mình cố ngăn đường đi của Trung Quốc, và mặt khác thì nỗ lực ngoại giao theo kiểu không muốn làm quá.
Nhưng Bắc Kinh rõ ràng không dừng lại, và bộc lộ rõ việc muốn chiếm lấy Bãi Tư Chính. Ngày 26/7, Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh tuyên bố rằng Việt Nam “vi phạm quyền chủ quyền của Trung Quốc đối với Bãi Tư Chính kể từ tháng Năm”, cho thấy cuộc tranh chấp có nội dung lớn hơn: Bắc Kinh muốn hoàn thành đại nghiệp đường 9 đoạn trên biển Đông, mà Việt Nam là kẻ gây khó trước mắt.

Trên bàn làm việc của các cơ quan tình báo quốc tế, kịch bản về một Bãi Tư Chính còn thuộc quyền Việt Nam, và một Bãi Tư Chính vào tay Trung Quốc ắt đã được lập ra, và cục diện thế giới cũng sẽ thay đổi, dựa vào đó. Từ tháng 5/2019, các thông tin tình báo và chuyển động trên biển Đông đã cung cấp cho ông Derek Grossman, nhà phân tích quốc phòng của Mỹ nhận định rằng sớm muộn gì trong năm nay, Trung Quốc sẽ mở một cuộc chiến trên biển với Việt Nam về pháp lý, và có thể cả đụng độ nhanh. Giờ thì điều ấy đã thành sự thật.

Mỹ cũng nhận biết rõ tính toán này của Trung Quốc nên việc tăng cường các chuyến hải hành tự do, gọi là FONOP, hay lên giọng chỉ trích trực tiếp và mạnh mẽ Bắc Kinh là điều dễ hiểu. Tờ The National Interest, số ra ngày 31/7, của tác giả David Axe, với bài viết có nhan đề “Phi tiễn của Mỹ và Trung Quốc nằm chen cứng trên biển Đông, ai sẽ thắng?” (Here's How China and America's Missiles in the South China Sea Stack Up, who  wins?) đã nhận định như vậy. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng không ngần ngại phô trương việc mang các phi tiễn chống hạm vào biển Đông, thử nghiệm hồi đầu tháng 7/2019 như một cách ngầm cảnh báo.

Rõ ràng hơn, Bắc Kinh cũng phô trương trên tờ Hoàn Cầu Thời Báo rằng hàng loạt các phi đạn tầm xa có tên DF-26 đã được kéo đến vùng Nội Mông (cách vùng biển Hoàng Sa khoảng 2000 dặm), hướng vào các lộ trình tự do hải hành của Mỹ. Hoàn Cầu Thời Báo cũng không ngần ngại tuyên bố DF-26 có tầm bắn đến 2.500 dặm, và sẽ đánh trúng bất kỳ chiến hạm nào của Mỹ trong vài giây.
Kịch bản của việc Trung Quốc muốn cướp Bãi Tư Chính là gì? Các nhà phân tích phỏng đoán rằng sau khi tạo các bước gây căng thẳng lên cao, các tàu cá – mà thực tế là các tàu dân quân biển sẽ được đưa ra hàng đầu để tiến vào mục tiêu, sau đó, tạo ra một tình huống bị phía Việt Nam ngăn chận, đánh chìm… dẫn đến cuộc gia tốc và can thiệp của hàng chục tàu cảnh sát biển vũ trang Trung Quốc “bảo vệ tàu cá vô tội”. Bãi Tư Chính có thể có một cuộc đổ bộ thần tốc của Trung Quốc, không khác gì trường hợp đảo Gạc Ma. Sau khi cắm cờ, Bắc Kinh có thể ung dung đối phó với Việt Nam – một quốc gia mắc cạn với chiến sách “ba không” của mình, tức 1/ không tham gia các liên minh quân sự. 2/ không đi theo bất kỳ nước nào để chống lại một nước khác. 3/ không có căn cứ quân sự của nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam.

Việt Nam, trong cách thức “đấu tranh” của mình, đang chuyển hướng bố cáo dần các sự việc với các quốc gia để tạo áp lực quốc tế. Gần đây nhất, là Hà Nội đã chuyển sự kiện cho New Delhi – cũng là một cách thăm dò phản ứng Bắc Kinh. Sau Ấn Độ, có thể sẽ có thông tin thêm, rộng hơn, phản đối tăng cấp độ. Nhưng đó cũng là một con dao hai lưỡi vì Bắc Kinh sẽ đẩy nhanh tốc độ lấn chiếm, trước khi mọi chuyện bùng phát ở tầm quốc tế hơn là giữa một vài nước.

Có nhiều hy vọng từ đám đông bàn tán trên các trang mạng Việt Nam, là Mỹ sẽ can thiệp cho Việt Nam. Nhưng đó là một khả năng rất thấp. Bởi câu chuyện Bãi Tư Chính đang trở thành chuyện riêng của anh em nhà Cộng sản – đặc biệt khi Nga vẫn phớt lờ khi công ty khai thác dầu khí Rosneft của họ bị uy hiếp. Và quan trọng nhất, Mỹ sẽ không có tư cách gì can thiệp cho Việt Nam, khi các cơ hội về một liên minh hợp tác quốc phòng luôn bị Hà Nội né tránh. Hãy nhìn vào Hồng Kông, nếu có sốt ruột trước phong trào đòi dân chủ ở đó, Mỹ cũng không thể làm gì hơn là chỉ trích.

Việt Nam cũng vậy, đặc biệt, mọi chuyện có vẻ như thuận buồm xuôi gió cho Trung Quốc, khi người đứng đầu tối cao của đảng- nhà nước Việt Nam là Nguyễn Phú Trọng chỉ nói chuyện tham nhũng, mà không cất một tiếng nào về an nguy quốc gia, dù gần 1 tháng bị uy hiếp và xâm lấn.
Bãi Tư Chính có thể sẽ mất như Gạc Ma. Và sau đó, người dân Việt Nam sẽ rồi chỉ còn nghe lời tuyên bố dữ dội của một quan chức cấp cao rằng chuyện đòi lại Hoàng Sa, Gạc Ma, Tư Chính là điều của thế hệ con cháu phải làm.

Tuấn Khanh

Cao tốc nào chạy thẳng tới bãi Tư Chính?

Cao tốc nào chạy thẳng tới bãi Tư Chính?


Báo chí Việt Nam trong thời điểm này có hai đề tài chính được người dân theo dõi hàng ngày đó là bãi Tư Chính của Việt Nam bị tàu thăm dò địa chất Trung Quốc Haiyang Dizhi 8 xâm phạm, thứ hai là nỗi lo của các chuyên gia kinh tế, trí thức, người dân về nhà đầu tư cùng với nhà thầu Trung Quốc sẽ thu tóm dự án Cao tốc Bắc Nam (CTBN) do Bộ giao thông Vận tải chủ trì.
Bãi Tư Chính có tầm vóc quốc gia về chủ quyền nên dĩ nhiên quan trọng hơn dự án Cao tốc Bắc Nam mặc dù dự án này có kinh phí rất lớn đến nỗi chính phủ hiện nay không thể nào xoay sở để có thể tự do trong vấn đề xây dựng và thực hiện dự án.
Tuy nhiên nếu xét ở mức độ chủ quyền thì hình như Dự án CTBN không hề kém cạnh vụ tàu Haiyang Dizhi 8 đang xâm lấn ngoài bãi Tư chính.
Do chính phủ không có ngân sách cho dự án CTBN kể cả các doanh nghiệp cỡ lớn của Việt Nam cũng không thể chứng minh đủ năng lực tài chánh khi thực hiện dự án nên các Tập đoàn tài chánh, xây dựng lớn của Trung Quốc mới có hội nhảy vào, điển hình là cổng thông tin của Bộ GTVT đã đăng tải thông tin buổi làm việc giữa Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Công với Chủ tịch Tập đoàn Thái Bình Dương (Trung Quốc) Nghiêm Giới Hòa và phía sau buổi làm việc ấy ai cũng thấy là kết quả sẽ ra sao khi Thái Bình Dương đưa ra những đề nghị rất phấn khởi cho Việt Nam.
Không riêng một mình Tập đoàn Thái Bình Dương mà rất nhiều tập đoàn, công ty khác của Trung Quốc đang khống chế mọi ngõ ngách dự thầu của dự án.
Rất ít nhà đầu tư đến từ châu Âu, Hàn Quốc, Nhật Bản... trong khi áp đảo là nhà đầu tư Trung Quốc. Có tổng số 16 nhà đầu tư Trung Quốc tham gia sơ tuyển dự án cao tốc Bắc - Nam, đông nhất trong số các doanh nghiệp ngoại dự thầu. 16 nhà đầu tư Trung Quốc đến mua hồ sơ sơ tuyển tại cao tốc Bắc - Nam. Trong đó có nhiều công ty thuộc các tập đoàn đường sắt như Tập đoàn Cục 16 đường sắt Trung Quốc, Tập đoàn Cục 21 đường sắt Trung Quốc, China Railway Construction Investment Group Co, China Railway Construction Corp...
Tập đoàn Xây dựng đường sắt Trung Quốc, công ty mẹ của công ty Cục 6 đường sắt Trung Quốc, đơn vị tổng thầu đường sắt Cát Linh - Hà Đông cũng tham gia. Ngoài ra còn có Tập đoàn Cầu và đường Trung Quốc cũng dự thầu.
Những tập đoàn Trung Quốc tham gia dự thầu nhiều như vậy vì hai nguyên do, thứ nhất là phía sau các tập đoàn, công ty dự thầu là các ngân hàng của Trung Quốc sẵn sàng cho Việt Nam vay với lãi suất ưu đãi chỉ cần doanh nghiệp Trung Quốc trúng thầu.
Thứ hai, Việt Nam không đủ uy tín kêu gọi nhà đầu tư quốc tế từ các nước phát triển (như Hoa Kỳ, Nhật Bản, châu Âu) tham gia các dự án BOT giao thông của Việt Nam do quá nhiều rào cản, từ cung cách quản lý, thủ tục phức tạp, tham nhũng, thiếu minh bạch, thường yêu cầu giá rẻ, trong khi các nước phát triển thường làm chất lượng, giá thành cao, bên cạnh đó là tỷ giá chưa ổn định khiến việc thu hồi vốn khó khăn.
Ngược lại nhà thầu và nhà đầu tư Trung Quốc thường đưa ra giá thấp để trúng thầu, sau đó thi công rồi cố tình trì hoãn tiến độ để yêu cầu tăng vốn gấp 2-3 lần ban đầu. Trong khi chất lượng công trình thường rất kém và những cơ quan kiểm nghiệm của Việt Nam lại thiếu kinh nghiệm nhưng thừa khả năng tham nhũng đã giúp cho các công trình đội vốn, chậm tiến độ vẫn ngang nhiên tồn tại mà Đường sắt Cát Linh – Hà Đông là một điển hình trước mắt.
Ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế VN từng nói: Đằng sau sự cố tình làm kém, làm chậm trễ ở những dự án có tầm quan trọng quốc gia như thế này – Đường sắt Cát Linh-Hà Đông là âm mưu làm giảm sức cạnh tranh của Việt Nam. Bên cạnh ông Trần Đình Thiên là các chuyên gia kinh tế, môi trường như bà Phạm Chi Lan, TS Tô Văn Trường, TS Nguyễn Ngọc Chu cùng hàng chục người trong ngành quan tâm đến dự án đều tỏ ta lo sợ một khi Trung Quốc trúng thầu (mà đây là điều chắc chắn) Việt Nam sẽ rơi vào bẫy nợ mà Trung Quốc đã thực hiện tại nhiều nước. Khi đã nợ lớn đến mức không thể trả nỗi vậy chủ quyền trên bộ có thể giữ được hay sao?
Kinh tế thiếu tự chủ là hình thức mất chủ quyền rõ rệt nhất mặc dù nó không gây bức xúc như chủ quyền vật thể như biên giới, hải đảo hay gần đây nhất là Bãi Tư chính.
Có lẽ thấu hiểu điều này nên chỉ đạo của Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúcgửi tới Bộ trưởng Bộ GTVT, ngày 10/11/2018 rằng phải đổi mới tư duy trong việc triển khai dự án Đường sắt tốc độ cao Bắc Nam, theo tinh thần:
-Bảo vệ quyền lợi và khả năng tự chủ của Việt Nam.
-Bám sát năng lực hiện có và sẽ có.
-Không để nước ngoài thâu tóm toàn bộ các loại hợp đồng của dự án hàng chục tỷ USD và chúng ta rơi vào vị thế bị phụ thuộc.
Thủ tướng chỉ đạo về Đường sắt cao tốc Bắc Nam nhưng cũng có thể áp dụng chung cho Đường cao tốc Bắc Nam vì tuy hai mà một. Tuy nhiên Bộ giao thông Vận tải xem ra không thích làm theo, có lẽ ông Bộ trưởng được các nhóm lợi ích phía sau chống lưng để hô hào giá nào cũng phải làm đường CTBN trong khi ngoài bãi Tư Chính vẫn tồn tại hình ảnh xâm lược của con tàu Haiyang Dizhi 8 và các tàu hải cảnh bảo vệ cho nó.
Nếu Việt Nam chấp nhận cầm đồng tiền đầu tư của Trung Quốc để thực hiện dự án thì tương lai những chủ nợ của Việt Nam có thể mạnh miệng đề nghị những phương án như Trung Quốc đã đề nghị đối với Sri Lanka lấy luôn hải cảng Hambantota trong 99 năm của nước này để trừ món nợ mà chính quyền Sri Lanka nhiều năm vay mượn từ Trung Quốc để phung phí.
Các nước phương Tây sẵn sàng bảo vệ công ty của họ kinh doanh ở nước ngoài nhưng không chấp nhận dùng phương tiện kinh doanh trong mưu toan chính trị. Trung Quốc thì khác, bất cứ điều gì có lợi cho sự phát triển của Trung Quốc thì Bắc Kinh sẽ không hề từ nan, bài học từ Huawei là một ví dụ hết sức thuyết phục. Khi cần Bắc Kinh sẵn sàng dùng món nợ của Việt Nam đối với các ngân hàng Trung Quốc để làm áp lực trên hồ sơ chính trị, lúc đó mới thấy chủ quyền kinh tế của đất nước mong manh như thế nào và e rằng không còn kịp nữa.
Nếu quyền lực của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc mạnh hơn ắt hẳn ông chỉ cần đặt ra một câu hỏi cho Bộ trưởng Bộ GTVT rằng: Động cơ nào mà bộ GTVT luôn đưa tiền đề Trung Quốc vào dự án Đường Cao tốc Bắc Nam trong khi đường sắt trên cao Cát Linh-Hà Đông vẫn đang là chiếc gai làm nhức nhối cả thành phố Hà Nội vẫn chưa được giải đáp?
Quan trọng hơn, nếu bãi Tư Chính mất vào tay Trung Quốc liệu Bộ GTVT sẽ ăn nói ra sao với nhân dân Việt Nam, những người đau đáu vì mất biển, mất dầu lại phải mang nợ Trung Quốc, kẻ đánh cắp Tư Chính, vì một dự án lắm câu hỏi về tính minh bạch của người ký lẫn kẻ thực hiện?

MAC LAM/VOA

Khang Nguyen blog: SÁU LÝ DO GIÚP CHẾ ĐỘ CS TỒN TẠI


SÁU LÝ DO GIÚP CHẾ ĐỘ CS TỒN TẠI

Hôm đó là ngày 11 tháng 9, 1987 và Mikhail Gorbachev đang nghỉ ngơi trong một biệt thự ở Hắc Hải. Một phụ tá trình lên ông lá thư từ chức Ủy viên Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Liên Xô của Boris  Yeltsin . Gorbachev đọc lá thư mà không tin đó là sự thật. Trong lịch sử đảng CSLX đây là lần đầu một lãnh tụ CS cấp trung ương từ chức. Đấu tranh nội bộ dù sâu sắc như giữa Leon Trotsky và Stalin mấy chục năm trước cũng không có chuyện từ chức. Việc tự ý rời nhiệm sở là việc chưa từng có và cũng không được phép. Leon Trotsky bị tước đoạt mọi chức vụ, loại trừ ra khỏi đảng năm 1927 và cuối cùng bị ám sát ở Mexico năm 1940.

Theo lời Gorbachev, ông gọi về Moscow và ra lịnh cho các phụ tá đến khẩn thiết với  Yeltsin  đừng tiết lộ nội dung lá thư ra ngoài vì quần chúng và thế giới sẽ biết sự rạn nứt trong nội bộ đảng CSLX.

Hơn một tháng sau đó, trong phiên họp của ban chấp hành trung ương đảng CSLX, Boris  Yeltsin  chính thức từ chức.

Tuy phiên họp được tổ chức trong vòng bí mật, các tin tức về Boris  Yeltsin  từ chức cũng đã nhanh chóng lọt ra ngoài. Mảnh vỡ đó đã dẫn tới tự tan vỡ từ trung tâm đảng CSLX, một tổ chức chính trị bí mật, sắt máu và chặt chẽ nhất từ trước đến nay.

Đặc điểm bí mật và sắt máu đã giúp cho cơ chế CS tồn tại với một kỷ lục 74 năm tại Liên Xô so với Đảng Cách Mạng Thể Chế Mexico (Mexico’s Institutional Revolutionary Party) cầm quyền được 71 năm.

Nhưng đó không phải là lý do duy nhất.

Người viết xin tổng kết các lý do chính để những ai, nhất là những người nghĩ mình đang đấu tranh cho dân chủ Việt Nam, hy vọng sự rạn nứt giữa Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng sẽ dẫn đến những thay đổi căn bản và tốt đẹp cho đất nước thì cũng đừng mơ mộng và kỳ vọng nữa.

Việc mong đợi đảng CS tự thay đổi chẳng những làm nhụt ý chí đấu tranh, chứng tỏ sự yếu kém của mình mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến các phong trào dân chủ đang cố gắng vươn lên.

Những thư kiến nghị, thỉnh cầu lần nữa “đem đàn gảy tai trâu” như bao nhiêu lần trước. Với Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng, quyền lợi của đảng bao giờ cũng được đặt lên trên quyền lợi cá nhân.

Rồi mai đây, sóng gió trong nội bộ đảng sẽ qua, Nguyễn Tấn Dũng mất quyền nhưng không mất lợi, chỉ có đất nước là bị xâm thực dần cho đến khi mất hẳn vào tay Trung Cộng.

Dưới đây là sáu lý do :

1. Đảng CS kiểm soát toàn bộ cơ cấu kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội bằng tuyên truyền và khủng bố

Lý do này rất hiển nhiên và dễ hiểu. Tuyên truyền kết hợp với khủng bố tạo thành cột xương sống của chế độ độc tài CS. Ngoài nhà tù và sân bắn, đảng CS áp dụng một chính sách tuyên truyền tàn độc nhất trong lịch sử loài người. Tinh vi đến mức người bị tẩy não hoàn toàn không biết mình bị tẩy não mà cho CS là một lý tưởng của đời người và hiến thân cho đến chết.

Sau cách mạng CS Nga, 1917, công việc đầu tiên Lenin phải làm ngay là thành lập cơ quan tuyên truyền Agitprop và trong giai đoạn đầu còn do chính Lenin đích thân lãnh đạo. Tại Trung Cộng cũng vậy, trong đại hội đảng CS Trung Quốc lần đầu vào năm 1921 chỉ bầu ra vỏn vẹn ba ủy viên trung ương nhưng một trong ba ủy viên đó chịu trách nhiệm tuyên truyền.

Cơ quan tuyên truyền tẩy não trung ương đảng kiểm soát từng chi tiết các sinh hoạt tri thức, thông tin, truyền thanh, truyền hình, báo chí. Hệ thống kiểm duyệt trong chế độ Cộng Sản không chỉ ở trung ương mà theo nhiều tầng lớp. Ngay cả khi các tác giả viết bài cũng đã thực thi tự kiểm duyệt vì họ biết những gì nên viết và những gì không được viết trước khi nạp bản thảo cho cơ quan kiểm duyệt nhà nước. Các tác phẩm phim ảnh được duyệt nhiều lần để bảo đảm khi đến người dân không có một tình tiết nào đi ngược với đường lối của đảng.

Để tồn tại sau những đãi lọc của văn minh nhân loại, phương pháp và mục đích tuyên truyền CS cũng thay đổi theo thời gian.

Chẳng hạn, trước năm 1990 nền giáo dục CS đặt nặng lên học thuyết Marx-Lenin nhưng sau này thêm vào một cái đuôi tư tưởng dân tộc như tư tưởng Mao tại Trung Cộng và tư tưởng Hồ Chí Minh tại Việt Nam.

2. Đấu tranh nội bộ nhưng có cùng một mục tiêu và bị chi phối bởi một kỷ luật đảng

Lịch sử phong trào CS thế giới từ Liên Xô đến Trung Cộng hay như vừa diễn ra tại Việt Nam cho thấy dù có đấu tranh nội bộ, các lãnh tụ CS luôn đặt mục tiêu chung của đảng lên hàng đầu.

Các lãnh đạo đảng chọn hy sinh quyền lợi cá nhân vì sự sống còn của đảng. Tất cả đảng viên CS bị chi phối bởi một cương lĩnh duy nhất là cương lĩnh đảng CS.

Để duy trì tính thống nhất, đảng CS áp dụng một kỷ luật sắt trong nội bộ đảng.

Ngoại trừ trường hợp Khrushchev tố Stalin trong đại hội lần thứ XX của đảng CS Liên Xô, ít khi nào một lãnh đạo Cộng Sản đứng lên thẳng thắn vạch trần tội lỗi của lớp lãnh đạo trước. Làm như thế là phản đảng vì đã tạo chỗ hở cho kẻ thù tấn công vào đảng. Không ai tiên đoán được số phận của Boris  Yeltsin  ra sao nếu ông ta từ chức, đừng nói chi dưới thời Stalin mà chỉ 10 năm trước đó.

Đời tư các lãnh tụ CS là tài sản bí mật của đảng.

Các lãnh tụ độc tài dù tự sát như Adolf Hitler, bị giết như Benito Mussolini hay bị treo cổ như Hideki Tojo, tội ác của họ cũng đều được phanh phui sau Thế Chiến thứ Hai. Các thế hệ lãnh tụ CS thì khác. Tội ác của các lãnh tụ CS được che giấu kỹ. Vai trò của Kim Nhật Thành trong chiến tranh chống Nhật, Hồ Chí Minh trong chiến tranh chống Pháp, Fidel Castro trong chiến tranh chống độc tài Batista, Stalin trong chiến tranh chống Đức, Mao Trạch Đông trong chiến tranh chống Nhật được đề cao đến độ làm như nếu không có họ có thể toàn dân tộc đã bị xóa tên khỏi lịch sử loài người.

Hình ảnh Mao Trạch Đông chính thức tuyên bố thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, hình ảnh Hồ Chí Minh đọc “tuyên ngôn độc lập” đã được đánh bóng sáng đến mức mọi tội ác tày trời khác của họ đã trở thành tội ăn cắp, tội trộm vặt.

3. Bảo vệ tính kế tục cai trị của đảng

Chế độ CS là một chế độ phong kiến đỏ và do đó, đặc điểm kế tục cai trị CS vô cùng quan trọng.

Trường hợp Đặng Tiểu Bình đối với Mao Trạch Đông là một ví dụ điển hình.

Đặng Tiểu Bình là một trong những người chịu đựng sự hành hạ và mất mát lớn lao về nhân mạng trong thời Cách mạng văn hóa. Bản thân Đặng Tiểu Bình bị chính Mao thanh trừng nhiều lần và con trai của họ Đặng trọng thương khi bị ném từ cửa sổ xuống đường. Chuyện đời tư của Mao, từ bản chất độc tài, nghi kỵ cho đến cá tính trăng hoa dâm dật, Đặng Tiểu Bình biết hơn ai hết, nhưng khi lên nắm quyền hành, ông ta vẫn tiếp tục sơn son thiếp vàng lên một hình tượng mà cá nhân ông vô cùng căm hận.

Trên đồng nhân dân tệ từ đơn vị một đồng cho đến một trăm đồng vẫn in khuôn mặt mỉm cười của một trong những kẻ từng điều khiển bộ máy giết người tập thể khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại.

Là một trong số rất ít lãnh đạo Cộng Sản lão thành còn sót lại từ thời Vạn lý trường chinh và cũng quá thuộc sử Tàu, Đặng Tiểu Bình biết, giống như các triều đại phong kiến Trung Hoa, đặc tính kế thừa của một quyền lực trung tâm là một yếu tố sinh tử của chế độ Cộng Sản.

Họ Đặng biết rằng điểm trung tâm vỡ toàn bộ hệ thống cai trị sẽ vỡ theo.

Đặc điểm kế tục còn được thể hiện qua tầng lớp “Thái tử đảng,” con cháu của các cựu lãnh đạo đảng, tiếp tục vai trò lãnh đạo như trường hợp Ôn Gia Bảo, Hồ Cẩm Đào, Tập Cận Bình tại Trung Cộng. Tại Việt Nam, thành phần “Thái tử đảng” cũng đang “nối bước cha anh.”

4. Sử dụng “thành phần xăng nhớt” cho bộ máy toàn trị

Thành phần trung thành và cuồng tín do chính sách tẩy não nặn ra đa số là những kẻ dốt nát, ngu ngốc, phát biểu những câu chỉ làm trò cười cho thiên hạ và không thể điều hành bộ máy nhà nước.

Bộ máy độc tài toàn trị CS chạy được nhờ vào một thành phần khác có trình độ kỹ thuật chuyên môn cao thuộc các lãnh vực của đời sống mà người viết tạm gọi là “thành phần xăng nhớt.”

Khá đông trong “thành phần xăng nhớt” này là những người có học, có kiến thức về kinh tế chính trị, khoa học kỹ thuật, văn hóa xã hội, biết được lẽ đúng sai nhưng thỏa hiệp với tập đoàn cai trị để đổi lấy một cuộc sống an nhàn, vinh hoa cho bản thân và gia đình.

Thành phần này chấp nhận là xăng nhớt cho bộ máy độc tài tiếp tục cày xéo lên đất nước. Nhiều trong số họ được đào tạo tại các trường đại học danh tiếng thế giới, học và hiểu tường tận các nguyên tắc để xây dựng một xã hội dân chủ nhưng khi về nước họ đã bán thân cho đảng CS.

Một khi lớp xăng nhớt này trở thành cặn bã lại có một lớp khác lên thay.

Như người viết đã phân tích trong bài “Bàn về tẩy não”, lbert D. Biderman trong bản tin của Viện Hàn Lâm Y Khoa New York gọi thành phần này là những người “cho thấy việc chống lại chỉ là hành động vô ích”, từ đó “phát triển một thói quen tuân phục,” và cuối cùng “đầu hàng có điều kiện” trước đảng CS.

5. Các lãnh tụ CS chỉ giết nhân dân nước họ nên thế giới ít quan tâm

Không giống chế độ độc tài Đức Quốc Xã tàn sát dân Do Thái, lãnh đạo Cộng Sản các nước thường giết chính đồng bào cùng máu mủ, cùng tổ tiên, cùng đất nước với họ.

Ngay từ sau 1975, dư luận thế giới đã biết đến tội ác của chế độ Pol Pot. Năm 1976, tạp chí Time còn đăng cả bức hình một tội nhân đang bị đánh vào đầu bằng cuốc, tuy nhiên, ngoài Việt Nam tấn công chế độ bằng một lý do riêng vào tháng Giêng, 1978, không một quốc gia nào có hành động cụ thể để ngăn chặn tội ác của Pol Pot.

Theo Black Book of Communism do Harvard University Press xuất bản, gần một trăm triệu người bị giết dưới chế độ CS nhưng không phải do nước ngoài xâm lược mà do chính các lãnh tụ CS giết nhân dân nước họ như trường hợp Mao giết 65 triệu, Lenin và Stalin giết 20 triệu, Pol Pot giết 2 triệu, Hồ Chí Minh giết 1 triệu (không tính nhiều triệu người Việt vô tội của cả hai miền trong chiến tranh xích hóa Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975).

6. Lãnh đạo Cộng Sản thường tận dụng ảnh hưởng của kẻ thù đã chết

Những lãnh tụ Cộng Sản thường tận diệt kẻ thù còn sống nhưng ca tụng kẻ thù đã chết. Stalin ca tụng Lenin, Fidel Castro ca tụng Ernesto “Che” Guevara, Đặng Tiểu Bình ca tụng Mao Trạch Đông.

Lấy trường hợp Che làm ví dụ.

Nếu Ernesto “Che” Guevara không làm cách mạng phiêu lưu Nam Mỹ mà tiếp tục ở lại Cu Ba, thật khó tưởng tượng ông ta có thể sống sót dưới bàn tay của Fidel Castro. Một rừng không có hai cọp, một nước không có hai vua, đừng nói chi là quan hệ giữa Che và Fidel Castro rạn nứt trước khi Che tạm biệt vợ con lần cuối và lên đường đi Bolivia cuối năm 1966. Che chủ trương kỹ nghệ hóa đất nước, trong khi Fidel Castro chủ trương củng cố quyền lực trung ương.

Sự khác biệt của Che và Fidel Castro khá giống trường hợp của Lưu Thiếu Kỳ và Mao Trạch Đông. Nhưng hôm nay, nếu ai đến Havana, sẽ gặp hình ảnh Che trên khắp ngả đường. Xác chết không nghe được lời ca tụng, không nếm được mỹ vị cao lương, không sống trong các biệt thự có kẻ hầu người hạ, chỉ có đám độc tài đang thống trị đất nước mới thật sự là những kẻ hưởng thụ quyền lực.

Chủ nghĩa Cộng Sản đã tàn rụi ở châu Âu nhưng trong năm nước còn sót lại sự khổ đau, chịu đựng vẫn còn đến hôm nay và không biết đến bao giờ mới hết.

Chiến tranh Lạnh đã tàn. Các nước tư bản tự do vì lý do kinh tế đã không còn giương cao ngọn cờ dân chủ như trước nữa. Họ mặc nhiên chấp nhận chế độ Cộng Sản như là một thực tế của mỗi quốc gia hơn là một phong trào quốc tế. Nhân dân Bắc Hàn, Cu Ba, Việt Nam, Lào, Trung Hoa vì thế sẽ tiếp tục là những dân tộc chịu đựng trong cô đơn.

Trần Trung Đạo

Thứ Tư, 31 tháng 7, 2019

SAGRI: Đảng sẽ ‘thịt’ hay tha đồng chí Nguyễn Thiện Nhân?

***
SAGRI là một trong những doanh nghiệp của UBND TP.HCM. Giống như các doanh nghiệp cùng loại (hoặc thuộc Thành ủy, hoặc thuộc UBND TP.HCM), SAGRI được hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại TP.HCM giao cho đủ thứ công sản (công thổ, công thự, công quỹ) kèm đủ loại ưu đãi để kinh doanh.
Năm ngoái, Kiểm toán Nhà nước (KTNN) công bố kết quả kiểm toán SAGRI. Theo đó, SAGRI đã vi phạm hàng loạt qui định về quản lý công sản khi đem 24 khu đất có tổng diện tích 1.900 héc ta ra làm vốn để thành lập các doanh nghiệp mới. Tuy nắm trong tay 45 khu nhà và đất, tổng diện tích lên tới 6.300 héc ta và chỉ đem nhà, đất làm vốn, góp với các doanh nghiệp khác hoặc cho thuê nhưng lợi nhuận của SAGRI liên tục giảm so với mức biểu kiến mà SAGRI phải đạt. Năm 2017, lợi nhuận của SAGRI chỉ đạt 30% mức biểu kiến (2).
Cũng năm ngoái, Thanh tra TP.HCM công bố kết luận thanh tra, theo đó, năm 2016, ông Lê Tấn Hùng, Tổng Giám đốc SAGRI và bà Nguyễn Thị Thúy, Kế toán trưởng của SAGRI, phối hợp với hai công ty du lịch làm giả 10 hợp đồng đưa cán bộ, nhân viên đi “tham quan – học tập kinh nghiệm” ở nước ngoài để chi khống hơn 13 tỉ đồng (3). Giống như KTNN, Thanh tra TP.HCM nhận định, tại SAGRI đã xảy ra hàng loạt sai phạm trong sử dụng công sản, điều hành. Hiệu quả của hoạt động đầu tư thấp, thua lỗ triền miên, nhiều liên doanh phải ngưng hoạt động, vốn nhà nước giao cho SAGRI bị tổn thất.
Đó cũng là lý do cả KTNN và Thanh tra TP.HCM cùng đề nghị các viên chức hữu trách ở TP.HCM xem xét, xử lý lãnh đạo SAGRI.
Giữa lúc nhiều người tin rằng, ông Lê Tấn Hùng, Tổng Giám đốc SAGRI, em ruột ông Lê Thanh Hải, cựu Bí thư Thành ủy TP.HCM, sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì chỉ riêng chuyện tổ chức chi khống – chiếm đoạt hơn 13 tỉ đồng - đã đủ để ông Hùng có thể bị phạt chung thân thậm chí tử hình do “tham ô tài sản”... thì tháng 3 năm ngoái, Chủ tịch TP.HCM chỉ quyết định “khiển trách” ông Hùng và bà Thúy.
Quyết định “khiển trách” vừa kể bị công chúng chỉ trích kịch liệt nhưng tới tháng 10 năm ngoái, bảy tháng sau khi “khiển trách”, UBND TP.HCM mới quyết định nâng hình thức kỷ luật ông Hùng và bà Thúy từ “khiển trách” lên… “cảnh cáo” (4). Thêm bảy tháng nữa (tháng 5 năm 2019), Sở Nội vụ TP.HCM xác định, ông Hùng có: Mười sai phạm phải… “phê bình, rút kinh nghiệm”. Bốn sai phạm phải… “khiển trách”. Bốn sai phạm phải… “cảnh cáo” và “tổng hợp” các hình thức kỷ luật thì nên… “hạ bậc lương” (5)!
Mất thêm một tháng nâng lên, đặt xuống, tháng 6 năm nay, chính quyền TP.HCM mới quyết định “đình chỉ công tác” Tổng Giám đốc SAGRI của ông Lê Tấn Hùng (6) và tuần kế đó mới thông báo quyết định “cách chức” (7). Cần lưu ý là kể từ khi chính quyền TP.HCM tiến hành xem xét kỷ luật ông Hùng theo kiến nghị của KTNN và Thanh tra TP.HCM, Thành ủy TP.HCM luôn luôn “nhất trí” với các hình thức kỷ luật ông Hùng mà chính quyền TP.HCM áp dụng. Cũng vì vậy, đầu năm 2019, Ủy ban Kiểm tra (UBKT) của Thành ủy TP.HCM chỉ “cảnh cáo” đồng chí Lê Tấn Hùng rồi… thôi (8)!
Đúng 20 ngày sau khi UBND TP.HCM “nói lại cho rõ”, rằng ông Hùng có nhiều sai phạm “rất nghiêm trọng”, cho nên quyết định “cách chức” Tổng Giám đốc SAGRI của ông Hùng, hôm 9 tháng 7, Bộ Công an công bố quyết định khởi tố ông Hùng vì “vi phạm quy định về quản lý sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát lãng phí” và thực hiện lệnh tạm giam ông Hùng trong bốn tháng, đồng thời áp giải ông Hùng ra Hà Nội để điều tra chứ không đưa ông vào các trại tạm giam của bộ này tại TP.HCM (9).
***
Cứ nhìn vào tiến trình xem xét – xử lý kỷ luật ông Hùng, ai cũng có thể thấy, cả Thành ủy TP.HCM lẫn UBND TP.HCM đã cùng biến chủ trương “tự chỉnh đốn”, nỗ lực phòng - chống tham nhũng của Ban Chấp hành Trung ương đảng CSVN (BCH TƯ đảng CSVN) thành một vở hài kịch mà xem đến đâu thiên hạ… rủa đến đó chứ không ai cười.
Ai cũng biết, nếu Thành ủy TP.HCM không nhất trí, chắc chắn sẽ không có chuyện UBND TP.HCM chỉ “khiển trách”, rồi từ từ nâng lên thành “cảnh cáo”, thậm chí “tổng hợp” đủ thứ hình thức kỷ luật dành cho 18 sai phạm của ông Hùng mới ra được đề nghị “hạ bậc lương”.
Vì lẽ gì mà Thành ủy TP.HCM và UBND TP.HCM phải mất gần hai năm mới nhận ra những sai phạm ở SAGRI nói chung, của ông Lê Tấn Hùng nói riêng, vốn đã được KTNN, Thanh tra TP.HCM mô tả rất cặn kẽ là… “rất nghiêm trọng” để “đình chỉ công tác”, “cách chức” và “nhất trí” chuyển hồ sơ cho công an xem xét?
Đến nay, UBKT của BCH TƯ đảng CSVN khóa 12 đã phát hành 37 thông cáo báo chí sau 37 đợt xem xét – kỷ luật đảng viên các cấp. Đợt nào cũng có các tổ chức đảng và những đảng viên cao cấp thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý bị kỷ luật vì là “người đứng đầu” mà “thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát”.
Nếu tiến trình “tự chỉnh đốn” và phòng – chống tham nhũng “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai” như ông Nguyễn Phú Trọng vừa tái khẳng định hôm 26 tháng 7, tại phiên họp thứ 16 của BCĐTƯ PCTN, đảng ta có xem xét – kỷ luật ông Nguyễn Thiện Nhân và ông Nguyễn Thành Phong không?
Lẽ nào khi cả hệ thống chính trị lẫn hệ thống công quyền tại TP.HCM cùng hành xử như… đùa trong xử lý các sai phạm ở SAGRI nói chung, của ông Lê Tấn Hùng nói riêng mà một Ủy viên Bộ Chính trị kiêm Bí thư Thành ủy TP.HCM như ông Nguyễn Thiện Nhân, một Ủy viên BCH TƯ đảng CSVN kiêm Chủ tịch TP.HCM như ông Nguyễn Thành Phong vẫn… vô sự?
Tiến trình xử lý các sai phạm của ông Hùng nói riêng cũng như nhiều đồng chí khác nói chung, từng tạo cảm giác, nỗ lực “tự chỉnh đốn”, “phòng – chống tham nhũng” của đảng ta không phải vì thực thi đạo lý hay thượng tôn luật pháp. Đó chỉ là kế hoạch triệt hạ các băng nhóm trong đảng. Bào đệ của ông Lê Thanh Hải – một “Tiểu vương” tại TP.HCM – bị tống giam chỉ vì tương quan giữa thế và lực đã khác trước, thành ra phải dụng… chiêu và phải có… quá trình!
Nếu thật sự tôn trọng đạo lý, luật pháp làm gì ở TP.HCM có những cá nhân hành xử táo tợn như ông Lê Tấn Hùng, làm gì có những ung nhọt như SAGRI, làm gì có những thảm nạn kéo dài suốt hai thập kỷ nhưng vẫn chưa thấy hướng giải quyết bảo đảm hợp tình, thuận lý như Thủ Thiêm?
Nếu thật sự tôn trọng đạo lý, luật pháp, thật tâm xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm gì có chuyện gạt đạo lý, luật pháp qua một bên để “xử lý từng bước”? Sai phạm của SAGRI, của ông Hùng dù đã rõ ràng nhưng tương quan giữa thế và lực buộc phải khởi đầu tiến trình xử lý bằng… “khiển trách”.
Sẽ rất khó hiểu nếu tính chất, mức độ sai phạm của SAGRI nghiêm trọng đến mức cần được BCĐTƯ PCTN giám sát nhưng đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, đồng chí Nguyễn Thành Phong tiếp tục được đảng tín nhiệm, không bị đảng truy cứu trách nhiệm như một số đồng chí từng bị đảng “chặt đầu, lột da” trong vài năm gần đây vì là “người đứng đầu” mà “thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát”, khiến việc xử lý SAGRI trở thành một mớ bùng nhùng suốt hai năm, tác hại nghiêm trọng đến “niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân” vào nỗ lực “tự chỉnh đốn”, cũng như quyết tâm “phòng – chống tham nhũng” của đảng.
***
Chuyện “thịt” hay tha các đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Thành Phong sẽ giúp hiểu ra nhiều điều. Trong đó, điều quan trọng nhất là các đồng chí lãnh đạo đảng hiện nay có thật sự nghiêm minh, có đề cao đạo lý và luật pháp, hay lại tiếp tục dụng… chiêu để loại trừ những đối thủ trong nội bộ đảng và thu phục nhân tâm vốn đã chạm đáy bất bình, chán ngán.
Nếu các đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Thành Phong vô sự dù đã từng nhất trí chỉ “khiển trách”, rồi “cảnh cáo”,... vừa đấm, vừa xoa, vừa công, vừa thủ, nhằm hạn chế sức đề kháng, tiến từng bước trong việc đưa bào đệ của đồng chí Lê Thanh Hải đến chỗ trở thành bị can chính của một đại án, giờ đã trở thành đặc biệt nghiêm trọng – rõ ràng các đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Thành Phong đã cùng đảng dụng… chiêu.
Một đảng vận hành theo kiểu như thế rõ ràng không phải là tổ chức chính trị có thể cầm nắm tương lai quốc gia, vận mệnh dân tộc. Đó chỉ là một nhóm thảo khấu!


  • Trân Văn

    Trân Văn là bút danh của một nhà báo có 28 năm làm việc ở nhiều vị trí khác nhau (Cộng tác viên, Phóng viên, Biên tập viên, Thư ký Tòa soạn) của một số đài truyền hình, đài phát thanh, nhật báo, tuần báo, báo điện tử tại Việt Nam và Hoa Kỳ. Các bài viết của Trân Văn là blog cá nhân và được đăng tải với sự đồng ý của đài VOA nhưng không phản ánh quan điểm chính thức của chính phủ Hoa Kỳ.

Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2018

Nhất thể hóa chủ tịch nước và ‘Huy Đức là người của ai’

Nhất thể hóa chủ tịch nước và ‘Huy Đức là người của ai’

Phạm Chí Dũng

Người Việt 7/10/2018

Nhất thể hóa, ông Nguyễn Phú Trọng vừa làm Tổng Bí Thư vừa "gánh" luôn Chủ Tịch Nước. (Hình: Getty Images)

Chưa đầy chục ngày sau cái chết đầy nghi vấn của Trần Đại Quang mà đã khiến lộ trống cái ghế chủ tịch nước như một cơ hội trời ban, một chiến dịch PR từ không quá che giấu đến lộ liễu và cả “dằn mặt” đã được phát pháo.

Chùm đạn pháo ngay trước thềm Hội Nghị Trung Ương 8 vào đầu Tháng Mười năm 2018 mà hứa hẹn có thể sẽ nổ tung một biến cố chính trị lớn.

Sau một tràng liên thanh của một số trí thức xã hội chủ nghĩa về “đã đến lúc cần hợp nhất hai chức danh chủ tịch nước và tổng bí thư” cùng ý tứ mấp mé “ông Nguyễn Phú Trọng là người xứng đáng,” viên đạn pháo có sức công phá và sát thương mạnh nhất vẫn thuộc về Huy Đức – một blogger mang tính tín hiệu chính trị mà từ sau bài “Bộ Tứ” trước Đại Hội 12 của đảng cầm quyền vào đầu năm 2016 đến nay đã được nhiều dư luận mặc định như một trong những “kênh đảng,” hoặc cụ thể hơn: “kênh Nguyễn Phú Trọng.”

‘Đừng sợ tập trung quyền lực vào một người?’

Ngày 30 Tháng Chín năm 2018 và trùng với một tin tức ngoài lề cho biết Bộ Chính Trị rốt cuộc đã họp bàn về các phương án nhân sự cho cái ghế chủ tịch nước với Nguyễn Phú Trọng có thể là ứng cử viên có thể duy nhất, Huy Đức đã đưa lên Facebook của blogger này bài “Nhất thể hóa,” với lời mào đầu:

“Nhất thể hóa tạo tính chính danh cho người đang thực sự nắm quyền lực tối cao ở Việt Nam. Từ thay đổi tưởng chỉ ‘cấu thành hình thức’ này, trong quá trình vận hành, chắc chắn sẽ làm xuất hiện nhiều tình huống, gợi ý cho Việt Nam cải cách. Cho dù vẫn một đảng, về mặt lý thuyết, Việt Nam sẽ tiến gần hơn tới một nền cộng hòa bán tổng thống.”

Gần 4 năm sau Đại Hội 12, có thể cho rằng đây là lần thứ hai Huy Đức tung ra một bài viết có trọng lượng với quan điểm vận động sự ủng hộ cho “người đang thực sự nắm quyền lực tối cao ở Việt Nam,” dù trong bài viết này không hề nhắc đến cái tên Tổng Bí Thư Trọng – người đã chiếm thế thượng phong sau khi tái cử tổng bí thư tại Đại Hội 12 đầu năm 2016, được tụng ca như “Người đốt lò vĩ đại” và “Bậc nhân kiệt thế thiên hành đạo” sau vụ chỉ đạo bắt Ủy Viên Bộ Chính Trị Đinh La Thăng vào cuối năm 2017, và trong thực tế đã mất sạch đối thủ chia sẻ trách nhiệm “thống lĩnh các lực lượng vũ trang” sau cái chết của Trần Đại Quang chỉ ít ngày sau lễ quốc khánh 2 Tháng Chín năm 2018.

Bốn năm trước, trong bối cảnh cuộc chiến nội bộ tranh ghế tổng bí thư vẫn chưa ngã ngũ giữa hai đối thủ chính trị Nguyễn Phú Trọng và kẻ kia bị phe đảng đóng đinh quan niệm “bất cứ ai trừ Dũng,” bài viết “Bộ Tứ” của Huy Đức đã lần đầu tiên đưa ra những đánh giá mang tính đề cao dành cho Tổng Bí Thư Trọng, với cách viết tự tin đến mức chủ quan mà không còn quá ẩn dụ và ẩn kín như trước đó.

Nhưng đó cũng là lần đầu tiên một số dư luận có được một bằng chứng khá rõ rệt thông qua bài viết trên để nhận định “Huy Đức là người phe nào” hoặc cụ thể hơn “Huy Đức là người của ai,” bởi suốt một thời gian dài trước đó nhiều người vẫn ngờ ngợ về vị thế có vẻ mang hơi hướng “dân chủ nhân quyền” của tác giả “Bên Thắng Cuộc.”

Nhà báo tự do Huy Đức (Hình: Facebook Truong Huy San)
“Đừng sợ tập trung quyền lực vào một người. Nếu tôn trọng các nhánh quyền lực nhà nước theo thẩm quyền được ghi trong Hiến Pháp thì không ai có thể lạm quyền dù họ là nguyên thủ. Nước cũng chỉ nên có một “vua.” Ai cũng muốn đứng đầu. Ai cũng làm chính trị mà thiếu một người kỹ trị thì chính trường rất dễ thành đất “quần ngư tranh thực”; thị trường chỉ là chợ đen; hành chính rối ren và xã hội không thể nào ổn định.” – vẫn Huy Đức viết trong bài “Nhất thể hóa.”

Thế nhưng ít ai quên được rằng vào năm 2013 khi Nguyễn Phú Trọng còn bất lực trước một “đồng chí X” không thể kỷ luật được, ông Trọng đã từng than vãn “không nên tập trung quá nhiều quyền lực vào một người mà khó kiểm soát” như cái cách gián tiếp tố cáo tham vọng chính trị của Nguyễn Tấn Dũng. Giờ đây, ông Trọng lại đang đi vào vết xe đổ của Nguyễn Tấn Dũng.

Đã thành một thói quen, không ít người quan tâm đến biến động chính trị trong nội bộ đảng và chiến dịch được tuyên truyền là “chống tham nhũng” của Tổng Bí Thư Trọng ngày càng dựa vào những tin tức, dù được thể hiện rõ ràng hay mơ hồ lấp lửng, của Huy Đức để nhận định và dự đoán về tương quan chính trị cùng những biến động, biến cố có thể xảy ra trong tương lai gần. Đặc biệt là về “ai sắp bị bắt” hay “ai sắp chết”… Với lợi thế có được nhiều tin tức nội bộ và thâm cung bí sử, Huy Đức đã trở thành một cây bút tín hiệu ghê gớm. Vào giữa năm 2017, chỉ một dòng status lấp lửng của cây bút quá thâm này về số phận đại gia Trần Bắc Hà đã khiến thị trường chứng khoán Việt Nam suýt rơi vào hoảng loạn và lao dốc khiến mất đi $2 tỷ vốn hóa.

Sau “Bộ Tứ,” Huy Đức còn viết khá nhiều bài chính luận cho đến nay. Nhưng càng viết, ông lại càng thể hiện mình mang tính “lề đảng” nhiều hơn hẳn mục tiêu dân chủ hóa mà ông vẫn nói đến bằng những từ ngữ trân trọng – như thể một tấm bình phong đẹp đẽ. Một số ý kiến đánh giá rằng có lẽ do thành công với tác phẩm “Bên thắng cuộc,” Huy Đức đã có chút ảo tưởng rằng ông có thể “hướng lái” dư luận, trong khi điều kiện cần để dư luận được chinh phục là sự thành tâm và khách quan trong phân tích và bình luận sự kiện chính trị, chứ không mang tư tưởng chỉ phục vụ cho đấu đá và thanh trừng phe phái.

Năm 2018. Một lần nữa, vào thời khắc có ý nghĩa như một sự kiện chính trị lớn của đảng cầm quyền chứ không phải của nhân dân và dân tộc, Huy Đức lại xuất hiện với bài PR lộ liễu cho ghế chủ tịch nước, không kém những ý tứ PR lộ diện cho ngai tổng bí thư trong bài “Bộ Tứ” vào năm 2015.

Huy Đức và Trần Đại Quang

Ngày 10 Tháng Tám, 2017, “cây bút tín hiệu” này phát ra một thông tin mang tính khẳng định trên Facebook của ông: “Đại Tướng Trần Đại Quang đi chữa bệnh từ tối 25 Tháng Bảy, 2017” trong bài viết có tựa đề “NGUYÊN THỦ QUỐC GIA & ĐỊNH CHẾ CHỦ TỊCH NƯỚC.” đoạn kết trong bài viết của Huy Đức, hẳn phải là ý quan trọng nhất được diễn giải: đã đến lúc ông Trần Đại Quang cần bàn giao quyền lực của mình cho người khác.

Chính vào thời gian trên đã bắt đầu xuất hiện dấu hiệu của hai cuộc điều tra quan trọng đối với Vũ “Nhôm” (Thượng tá tình báo Phan Văn Anh Vũ) và Út “Trọc” (Thượng tá quân đội Đinh Ngọc Hệ) – cả hai nhân vật này đều được cho là dính dáng sâu đậm, nếu không muốn nói chính là nhóm lợi ích sân sau của Trần Đại Quang. Biểu đồ đi lên của Quang đã có thể bắt đầu xuống dốc từ Tháng Bảy năm 2017.

Khoảng thời gian trên cũng là lúc mà trong dư luận bắt đầu hiện ra lời đàm tiếu về tình trạng “không nhìn mặt nhau” giữa Trần Đại Quang và Nguyễn Phú Trọng, về một hố phân cách lớn giữa Văn Phòng Chủ Tịch Nước và Văn Phòng Trung Ương Đảng, dù tình trạng như thế có thể đã xảy ra từ cuối năm 2016 khi Tổng Bí Thư Trọng bắt đầu “nhóm lò.”

Nhưng đến giờ này, Trần Đại Quang đã biến ra người thiên cổ, tạo nên một bất ngờ lớn vì theo nhiều dư luận trước đó, bất cứ kẻ nào cũng có thể chết, nhưng một viên tướng công an quá thâm niên, thủ đoạn và lọc lõi chính trường như Quang thì làm sao bị kết thúc như Nguyễn Bá Thanh.

Nhất thể hóa: nhân dân và đất nước được cái gì?

Cơ hội trời ban bất thần đến từ cái chết không thể lường trước của Trần Đại Quang. Dịp “ngàn năm có một” để hợp nhất hai chức danh chủ tịch nước và tổng bí thư chính là vào lúc này.

Nhưng sau tất cả những màn diễn đen đỏ sặc máu trên sân khấu của giới diễn viên chỉ tranh quyền đoạt vị, nhân dân và đất nước được cái gì?

Làm thế nào có thể tin được, dù chỉ một là một chút, về “nền cộng hòa bán tổng thống” mà Huy Đức đã phác ra một cách đầy chủ ý mà sẽ khiến một số người dân một lần nữa tiếp tục nuôi hy vọng vào một cái gì đó mà từ quá lâu nay đã trở nên hão huyền, mị dân và lừa gạt?

Thể chế cộng hòa bán tổng thống có lẽ là giai đoạn quá độ để tiến tới nền cộng hòa tổng thống, tức một thể chế phải có cơ chế tam quyền phân lập và đa đảng, tức ít ra cũng phải dân chủ hơn khá nhiều so với chế độ độc đảng đang ngự trị ở Việt Nam. Nhưng thực tế từ sau Đại Hội 12 lại ngược hẳn với bức tranh “dân chủ” mà Huy Đức phác vẽ trong bài “Bộ Tứ” và những bài viết sau đó: Nguyễn Phú Trọng vẫn kiên định chủ nghĩa xã hội, kiên định đàn áp tư tưởng đa nguyên và đa đảng, và vẫn bóp nghẹt các quyền tự do của người dân về biểu tình, lập hội, báo chí, ngôn luận…

Về sau này, người ta nhìn lại tinh thần “thoát Trung” của Nguyễn Phú Trọng mà Huy Đức nhận định và hy vọng trong bài “Bộ Tứ.” Nhiều người đã cho rằng nhận định này rất thiếu cơ sở thực tế. Và thực tế từ đó đến nay vẫn luôn là một Nguyễn Phú Trọng chưa có được bất kỳ biểu hiện rõ rệt nào về ý chí xa rời Bắc Kinh, nếu không muốn nói là ngược lại.

Vậy thì làm thế nào để có thể tin rằng Nguyễn Phú Trọng, sau khi đã được ngồi thêm vào cái ghế chủ tịch nước và trở nên “chính danh,” sẽ mở mang dân chủ và nhân quyền cho người dân và xã hội Việt Nam? Hay sẽ là một ông vua theo đúng nghĩa để đưa xã hội Việt Nam trở về thời phong kiến và có thể cả một thời kỳ Bắc thuộc mới?

Làm thế nào để có thể tin rằng vào một buổi sáng đẹp trời nào đó, Nguyễn Phú Trọng tỉnh giấc và tự nhiên muốn “trở về làm người tử tế” (như cách sám hối không nước mắt của Nguyễn Tấn Dũng), hay hợp nhất hai chức danh chủ tịch nước và tổng bí thư chỉ nhằm thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân về sĩ diện đối ngoại trong khi chẳng mang lại lợi ích gì cho dân và cho nước?

Sau nhiệm kỳ đầu hoàn toàn mờ nhạt và thất thế trước Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, Tổng Bí Thư Trọng đã trầy trật qua hơn nửa nhiệm kỳ thứ hai với thành tích chống tham nhũng rất khiêm tốn nhưng lại phân biệt đối xử quá rõ giữa “củi nhà” và “củi rừng,” trong khi nạn cường hào ác bá từ trung ương đến các địa phương vẫn tiếp tục nổi lên như giặc giã, còn người dân Việt thì ngày càng trở nên thống khổ và khốn cùng, bị đè nén bởi vô số sắc thuế thu cùng diệt tận mà dân gian phải phẫn uất gầm lên: “Chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy!”…

Phạm Chí Dũng